Liên lớp Quốc Học Khóa 1967-1974
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Keywords

Khanh  hoàng  Quang  minh  xuân  

Keywords

xuân  hoàng  Quang  Khanh  minh  

Latest topics
Latest topics
December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


DỰ ÁN ĐẶC SAN " THUỞ BAN ĐẦU QUỐC HỌC "

Trang 2 trong tổng số 4 trang Previous  1, 2, 3, 4  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

BÀI PHÁT BIỂU CỦA THẦY CHÂU TRỌNG NGÔ TẠI BUỔI LỄ KỶ NIỆM 120 NĂM QUỐC HỌC

Bài gửi  Admin on Thu Feb 23, 2017 8:53 pm

BÀI PHÁT BIỂU CỦA THẦY CHÂU TRỌNG NGÔ
TẠI BUỔI LỄ KỶ NIỆM 120 NĂM QUỐC HỌC
NGÀY 23/10/2016 - SÀI GÒN
Kính thưa quý khách
Kính thưa quý thân hữu cựu giáo sư
Và Cựu học sinh Quốc Học Huế
Được thọ hưởng niềm vui có mặt trong buổi hôm nay, tôi có nhiều cảm xúc tưởng nhớ tới ngôi trường cũ cùng với hình bóng rất rõ nét của thầy cô và bạn bè thuở trước, có lẽ nhiều vị nay đã khuất núi rồi. Tôi thành kính cung thỉnh chư vị anh linh về đây chứng giám sự tái hiện không khí đầm ấm của gia đình Quốc Học ngày xưa.
Kính thưa quí vị,
Rõ ràng tôi đã được vinh dự lên đây phát biểu hôm nay là do lớn tuổi, nói theo tiếng chuyên môn thường dùng trong bóng đá là hạng tuổi U 90.
Mỗi lần được nói, tôi rất ngại ngùng, nhất là trong giai đoạn tuổi đã quá “date” như hiện nay mà hằng ngày, mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tùy theo sự việc, đôi lúc tôi thấy lẽ ra mình phải nên ri, nên tê mới phải lẽ hơn, mới vui hơn mặc dù gặp việc chẳng liên quan gì đến lỗi phải. Tuy là chuyện đã qua rồi nhưng tôi vẫn không tránh khỏi cảm nhận sao sự thể không xảy ra khác đi để đỡ đáng tiếc, mất vui.
Bộc bạch với Quí vị đôi điều như thế, tôi hy vọng Quí vị sẵn lòng thông cảm và xả bỏ cho những gì tôi vấp váp, kính mong Quí vị cho tôi được hưởng trọn vẹn tình Quốc Học thân thương. Nhân buổi gặp mặt này, tôi xin phép nêu ra một vấn đề xã hội liên quan mật thiết đến Văn hóa Giáo dục để được Quí vị chia sẻ. May mà lứa tuổi của chúng ta dưới thời Quốc Học ngày trước chưa vấp phải vấn đề xã hội đó, xã hội thiếu tình thương, một loại tình cảm cốt lõi của đời người và là một yếu tố nền tảng đem lại hiệu quả cho mọi nền giáo dục chủ trương đào tạo tình người nơi thế hệ trẻ.
Kính thưa Quí vị,
Cuộc sống là một sự biến dịch miên viễn với các chuỗi nhân duyên muôn màu và bất tận. Xã hội loài người đã lần hồi thay đổi theo dòng chảy đó.
Nói riêng về khung cảnh gia đình Việt Nam, ta thấy rằng nơi ăn chốn ở đã đổi thay nhiều. Ngôi nhà một căn hay ba căn hai chái đã được thay thế bằng ngôi nhà có vách ngăn chia phòng riêng rẽ, làm mất đi cảnh chung đụng thân mật hằng ngày trong gia đình vài thế hệ. Trong đa số gia đình hôm nay thì cha con hay anh em không cùng làm một việc, giờ đi giờ về sai lệch nhau, làm cho những bữa cơm gia đình ấm cúng với đầy đủ thành viên không còn là lệ thường như trước nữa. Thanh thiếu niên bây giờ cũng ít đi dự lễ kỵ giỗ tổ tiên ông bà, sự vắng mặt lại còn nhiều hơn đối với các ngày lễ lớn tại Từ đường của Họ hay ngôi Đình của Làng. Thành ra không còn nguyên nghĩa của “tình làng nghĩa xóm”, của “bản sắc văn hóa dân tộc”
Tình trạng đã xấu đi để dẫn tới một vấn đề xã hội khi nhiều người bắt đầu dùng điện thoại di động, nhất là chiếc máy ấy được cải tiến để có nhiều chức năng. Không ai ngờ chiếc máy cầm tay lại là đồ dùng gây nghiện như rượu và ma túy. Nói đến chuyện này, tôi vội nhớ đến một dịp được trao đổi với một bà mẹ về việc dạy trẻ. Trong tâm trạng phiền muộn, bà ta than thở “Khi không mà tôi mất một đứa con”. Tôi đã có lời an ủi bà và hỏi thăm chi tiết về rủi ro đó. Bà liền xua tay bảo “Không phải! Hắn còn đó, luôn luôn với chiếc máy cầm tay; chính hắn là của máy chứ không phải máy là của hắn. Hắn quên ăn, bỏ ngủ, không còn giờ giấc chi cả; mọi chuyện đang bị xáo rối bời!’
Với hai người có máy cầm tay thì có cái hay là vẫn nói chuyện được với nhau và vẫn thấy nhau dù đang ở xa nhau vạn dặm. Nhưng cái dỡ cũng có khi mỗi người đã nhiễm cơn ghiền dùng máy như cháu bé nói trên; tuy đang ở kề nhau nhưng mỗi người mỗi cõi, say sưa theo nhịp độ của chương trình trong máy, rất đúng với hình ảnh của hai người mà một nhà văn cựu nữ sinh Quốc Học đã ví như là “hai mặt của tờ giấy, gần nhau đó nhưng chẳng gặp nhau bao giờ”.
Thế thì trong cuộc sống đời thường, cách nói gặp nhau chưa hẳn là gặp nhau, có lẽ còn phải nói là thực sự gặp nhau. Điều này là một chi tiết thêm vào “chuyện đời” đang gây khó khăn cho công tác giáo dục. Đó là vấn nạn “trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ đang mất nghĩa”; như với chữ “chung” chẳng hạn thì thể hiện lại riêng: Công viên biến thành nới dọn hàng quán tư nhân, công điền, công thổ có thể sử dụng thành của riêng; thủ tục hành chánh kế toán tại mỗi bệnh viện đang bị cách tổ chức ngành Y không chế, đã làm giảm nghĩa chữ “cấp cứu”, có trường hợp trở thành thong thả trước sự lo âu của người nhà bệnh nhân; lời khuyên trước đây ở học đường “thầy giáo phải thương yêu học sinh” về sau phải được nhấn mạnh “thầy giáo phải thực sự thương yêu học sinh” vì chữ “thương yêu” không được thực thi trọn nghĩa. Chữ mất nghĩa như thế đã lần hồi làm cho giữa người với người có sự dè dặt thủ thế lúc nói chuyện với nhau, dễ dàng đưa đến sự nghi ngờ nhau; điều này đã góp phần nới rộng khoảng cách giữa thầy và trò.
Trở lại tình trạng không có lần thực sự gặp nhau, ta thấy rằng tuy chung sống dưới một mái ấm gia đình nhưng cha mẹ, con cái, anh chị em ruột thịt thiếu dịp hàn huyên tâm sự, kể lể cho nhau nghe điều hơn lẽ thiệt, hoặc lắng nghe để thông cảm, tha thứ bao dung, nói chung là thiếu dịp bày tỏ tâm tư tình cảm. Gia đình Việt Nam không còn là nơi kết tụ tình thân để làm nẩy nở tình thương, đau nhất là có nơi, có lúc vắng bóng cả tình mẫu tử.
Tình trạng thiếu tình thương đã lây lan rộng ra đời sống cộng đồng và vấn đề xã hội đó đem lại không ít khó khăn trong công tác giáo dục. Cụ thể là có nhiều trường hợp nhà trường đã đối xử thiếu cả tình và lý với học sinh; lắm khi thầy và trò như đối chọi nhau, kéo theo mâu thuẩn giữa gia đình và học đường làm cho phụ huynh (có cả nữ) phải xông tới trường hành hung thầy cô giáo. Còn về bạn bè với nhau trong trường, trong lớp thì gần như dễ có cảnh đấm đá nhau diễn ra một cách man rợ mà can phạm nhiều khi là phái nữ!
Tuy sinh hoạt học đường chưa đến nỗi nào nhưng các vị trách nhiệm đã tỏ ra không yên tâm khi lên tiếng phân bua bằng cách dùng các chữ “Trường học thân thiện”.
Kính thưa Quí vị,
Tôi thường cầu mong sớm có sự hợp tác chặt chẽ giữa hai ngành văn hóa và giáo dục, đề ra giải pháp ngăn bớt ảnh hưởng của vấn đề xã hội đã nêu trên đây, làm căn bản cho công cuộc cải tổ giáo dục.
Phù hợp với nội dung tình thương phải được rộng mở khắp chốn, tôi xin nhớ tới để tán thán công đức của nhiều vị cựu giáo sư và cựu học sinh Quốc Học, với tâm không phân biệt, đã không nề hà cũ mới, một mực thương yêu các cháu Quốc Học hiện nay. Các cháu vẫn rất xứng đáng đón nhận sự trợ giúp quí báu từ chương trình học bổng hay giới thiệu du học trong nhiều ngành như Y học, Hàng không, Nông nghiệp, Vật lý v.v… qua những dịp Quí vị hợp tác nghiên cứu và đề nghị với các chuyên gia đương quyền. Các cháu vẫn có niềm tự hào Quốc Học, một niềm tự hào không ai dành làm của riêng, một mẫu mực để góp phần đón nhận yêu thương và lan tỏa thương yêu. Đúng là “Quốc Học mến yêu” như tên của một tập văn kỷ niệm Quốc Học 120 năm của khóa Quốc Học 67 – 74 ở Huế.
Thay lời kết cho phần phát biểu này, tôi xin lặp lại một ý mà tôi đã trình bày trong tạp chí “Nghiên cứu và phát triển” về chuyên đề “Giáo dục niền Nam” số 7 – 8 năm 2014:
“Nhà giáo ngày trước được hưởng cảm tình sâu đậm của các học sinh thân yêu. Điều này dễ thấy qua các buổi hội ngộ do cựu học sinh các khóa của nhiều trường tổ chức, mời các thầy cô cũ hàn huyên với ký ức về những ngày tháng cũ”.
Buổi hội hôm nay đang là một ví dụ tiêu biểu cho nhận xét đó. Tôi xin được cùng tất cả Quí vị hưởng trọn niềm vui Quốc Học như thuở nào.
Trân trọng cảm ơn Quí vị
Sài Gòn, ngày 23 – 10 – 2016
Châu Trọng Ngô



Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

NHỮNG BÀI THƠ THẤM ĐẴM TÌNH QUỐC HỌC - QUỐC HỌC ƠI! - Trần Ngọc Dung

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 4:45 am

NHỮNG BÀI THƠ THẤM ĐẴM TÌNH QUỐC HỌC
QUỐC HỌC ƠI! -  Trần Ngọc Dung
(Mến tặng Trương Văn Hải và một số bạn bè trường Quốc Học năm xưa)

Còn nhớ hay quên Quốc Học ơi!
Bề dày trang sử mãi muôn đời
Bao năm vùng đất Thần yêu dấu
Rạng rỡ vang danh trường sáng ngời.

Kẻ trước người sau vẫn một lòng
Tô điểm ngôi trường ta mãi mong
Thiên thu tuyệt đỉnh cùng năm tháng
Thế hệ sau này lại thượng phong.

Từng bước vươn trong giấc mộng dài
Cuối mùa trọng trách gánh hai vai
Nhân tài xin gọi tên Quốc Học
Vạn đóa hoa thơm nhờ giũa mài.

Hương vẫn ngàn năm bay ngất ngây
Thành tích mai sau vẫn mãi đầy
Người bỏ xuôi về miền xa vắng
Viết lên dấu ấn một thời đây.

Mai có về thăm vùng đất này
Đừng quên trường cũ vẫn vui thay
Lâu rồi ta gọi trong vương vấn
Dù có muôn đời vẫn mê say.

Mai có ngồi ôn lại chuyện xưa
Thời gian to nhỏ chẳng là thừa
Anh ơi! Cho dẫu người quên hết
Thì chốn ngày về vẫn say sưa.

Xin gửi thầy cô người dựng xây
Muôn vạn yêu thương luôn mãi đầy
Mai này trời có làm xa cách
Hình bóng thầy cô vẫn chốn này.

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

BÀI CHO TRƯỜNG CŨ - NGUYỄN THU 11C /1972-1973

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 12:05 pm

BÀI CHO TRƯỜNG CŨ
NGUYỄN THU 11C ( 1972-1973 )
Bỗng ngậm ngùi khi trở về trường cũ
Ta đứng nhìn con đường của ngày xưa
Dấu chân bước phai mờ từng dấu cỏ
Biết tìm đâu và buồn mấy cho vừa

Một chút nắng cũng không làm ấm lại
Trong sân cây trên tàng úa đã sầu
Ngẩn ngơ nhìn và chợt thèm thơ dại
Thuở tiếng cười và bè bạn lao xao

Một chiếc lá rụng rơi hồn xao động
Nghe chút tình buồn lên mắt thời gian
Nhuốm phai tàn như năm dài tháng lụn
Nên một lần tìm lại cũng hoang mang

Chim lạc loài bay bên hiên lớp học
Lặng thở dài niềm tiếc nuối nào nguôi
Vách xưa đó lên xanh màu rêu mốc
Đã nhạt nhòa và đã rã màu vôi

Biết nói gì khi bây giờ xa lạ
Ta trở về nơi chốn cũ bâng khuâng
Trường ta đó những yêu thương vắng quá
Xin muôn đời mộng tuổi ấu thơ ngoan

11 C - NGUYỄN THU

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Không về thăm sông Hương không phải đấng mày râu - Nguyễn Miên Thảo , C.H.S. Quốc Học 1961 - 1964

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 12:13 pm

Không về thăm sông Hương không phải đấng mày râu
By Nguyễn Miên Thảo  , C.H.S. Quốc Học 1961 - 1964

Bạn bảo bất đáo Hương giang phi hảo hán
Gươm cùn kiếm gảy hảo hán chi
Tháng tư ta sẽ về thăm Huế
Để đi tìm đôi mắt vương phi

Ta vốn kẻ hoang đàng chi địa
Yêu thì vô kể nhớ vô phương
Cuối đời còn một phương để nhớ
Mà lòng xao xác mãi không yên

Chắc ngày sau ta đi ở ẩn
Không bạn bè không cả người thân
Nhớ em đó là điều chắc chắn
Thơ ta xin lót chỗ em nằm !
MTN

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Những bài thơ về Huế của Trương Văn Hải

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 12:15 pm

những bài thơ về Huế
của trương văn hải
BẾN NGỰ
Dòng thơ tràn nước ngọt Hương Giang
Qua phố phường xinh đến xóm làng
Bến Ngự chàng trai hồn đắm đuối
Nam Giao thiếu nữ mắt mơ màng
Hành cung An Định mờ nhung gấm
Nhà nguyện Phủ Cam lóa ánh vàng
Lối cũ đôi bờ nhành rũ rượi
Đường hoa nhè nhẹ gót đài trang
CẦU GA
Kỷ niệm dấu yêu tuổi học trò
Bao năm nước chảy dưới cầu qua
Đi về suốt tháng không than thở
Lên xuống quanh năm chẳng hẹn hò
Thuở ấy bến bờ còn bóng mát
Bây chừ đường sá hết quanh co
Dòng êm An Cựu trăng soi tỏ
Hoa nở ven sông sắc chói lòa
PHỦ CAM
Sừng sững vươn cao tháp giáo đường
Chân đồi , Bến Ngự lượn dòng thương
Ngày xưa , nhà nguyện- tranh , tre nứa
Hiện tại , vương cung -thép sắt ,gương
Thắng cảnh danh lam vùng đất Huế
Linh sơn thánh địa xứ thùy dương
Thăng trầm lịch sử dù lên xuống
Kiến trúc Phủ Cam vẫn lạ thường

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

chùm thơ của trương văn hải về trường và quý bạn láng giềng Đồng Khánh

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 12:17 pm

chùm thơ của trương văn hải về
trường và quý bạn láng giềng Đồng Khánh
ĐỒNG KHÁNH
Áo trắng ngày xưa tha thướt nhiều
Tường hồng che vóc nhỏ xiêu xiêu
Tóc huyền buông thả làn mây sáng
Mắt biếc long lanh giọt nắng chiều
Cặp sách giữ gìn lời nắn nót
Sổ tay lưu dấu nét thương yêu
Một thời nhung nhớ tình thơ mộng
Bến nước vườn trăng dáng tiểu kiều

ĐỒNG KHÁNH TRONG MẮT AI
Đồng Khánh đâu chỉ tha thướt áo dài
Đôi vai hao gầy "như cánh vạc bay "
Đồng Khánh có người sớm hôm tần tảo
Triêng gánh oằn lưng rau trái qua cầu

Đồng Khánh lưa thưa đôi nàng Tôn Nữ
Đài cát ,cao sang ,lá ngọc ,cành vàng
Đồng Khánh rất nhiều những cô thôn nữ
Ruộng đồng ,vườn tược ,buôn bán lầm than

Đồng Khánh ,dáng đi ,tưởng là yểu điệu
Duyên thầm thỏ thẻ ,ăn nói nhu mì
Đồng Khánh trung trinh mắt ngời chân vững
Giúp chồng chèo chống ,gian khổ quản chi

Đồng Khánh một thời huy hoàng dĩ vãng
Trường cũ lớp xưa thương nhớ ngút ngàn
Đồng Khánh bây giờ con đàn cháu đống
Bao nhiêu thế hệ còn mãi vẻ vang

NỮ SINH
Nữ sinh xứ Huế ngày xưa
Nết na thùy mị cũng thừa nét duyên
Áo dài kín cổ thuyền quyên
Nụ cười e ấp mắt huyền thanh tao
Hồn băng tuyết , ý trăng sao
Yến oanh thỏ thẻ ngọt ngào dạ thưa
Suối tóc mềm gió nhẹ đưa
Hoàng thành mấy lối sớm trưa đi về
Nhớ người khép nép phòng khuê
Nữ công gia chánh mọi bề chỉn chu
Vườn xuân hoa bướm cho dù
Bên song một mảnh trăng thu dịu vời
ÁO TRẮNG
Áo trắng đẹp thay tuổi mộng mơ
Thầy yêu bạn mến thuở mong chờ
Lung linh mắt biếc người xao xuyến
E ấp tóc dài kẻ ngẩn ngơ
Sách vở nặng tình trang thục nữ
Guốc giày nhẹ gót đấng anh thơ
Phượng hồng nhắc nhớ mùa ly biệt
Áo trắng hôm nào nhẹ gió đưa
*******************************************
Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa
Rất thanh lịch lại còn thừa tài năng
Khéo trang phục ,giỏi nấu ăn
Khiêu vũ sành điệu ,thi văn ai bì
Hát hò chuyện nhỏ khó chi
Ngọt mềm giọng Huế Ai đi cho đành

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

chùm thơ của trương văn hải viết về trường Quốc Học

Bài gửi  Admin on Fri Feb 24, 2017 12:20 pm

chùm thơ của trương văn hải
viết về trường Quốc Học
BÌNH PHONG
Sừng sửng chắn che trước cổng trường
Bức rèm trang nhã cạnh bờ Hương
Dung hòa cảnh mộng miền non Ngự
Điểm xuyết tiền môn Quốc Học đường
Kỷ niệm in hằn trang sử đẹp
Thời gian để lại chuyến đò thương
Nam thanh nữ tú còn ghi nhớ
Phượng nở hè sang đỏ sắc hường

HỌC ĐƯỜNG
Mái trường mang kỷ niệm hao gầy
Ngũ thập niên tiền ở chốn đây
Rung động buổi đầu tiên đến lớp
Mắt nhìn ngơ ngác bóng cô thầy

Thấm thoát bảy năm dài chắt chiu
Buồn vui ngọt đắng mải mê nhiều
Nắng mưa dầu dãi lòng không ngại
Nhẹ bước đường xa mỗi sớm chiều

Nhớ những hàng cây mỗi góc trường
Dãy lầu , phòng trệt - lớp thân thương
Nhà chơi ấm cúng mùa đông giá
Chè đá đậu xanh ngọt mía đường

Dòng Hương tắm mát sáng , trưa hè
Lê Lợi con đường bóng rợp ghê
Đồng Khánh trường bên nhiều kỷ niệm
Lớp đêm Việt Mỹ đợi nhau về

Mấy lần man mác buồn chia tay
Bè bạn rời xa bỏ chốn này
Chinh chiến mấy người đi trở lại
Nửa đường đứt gánh thảm thương thay

Lớp cuối chào nhau giã biệt trường
Chim bằng vỗ cánh tỏa ngàn phương
Tài năng góp sức xây hoàn vũ
Xứng mặt tài anh Quốc Học đường

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

THƠ CỦA THẦY NGUYỄN HỮU HUYÊN

Bài gửi  Admin on Sat Feb 25, 2017 5:28 am

THƠ THẦY NGUYỄN HỮU HUYÊN , DẠY SỬ ĐỊA

Cựu giáo viên Quốc Học

Gần Tết họp mặt hàng năm
Cựu giáo viên Quốc Học thăm hỏi nhau
Tình bạn có trước có sau
Thân thương trò chuyện mi tau ngọt ngào
Anh chị em rất tự hào
Ngôi trường Quốc Học biết bao nhân tài
Quá khứ cho đến tương lai
Rạng danh Quốc Học nhân tài nhiều thêm
Quán Ông Táo vui ấm êm
Chuyện trò thân mật là niềm ước mơ

ĐẠP XE THỒ
Ba giờ sáng đẩy xe ra
Kho Rèn cõng khách lên ga nhiều lần
Bây giờ tuy đã mỏi chân
Còng lưng mà đạp khi gần khi xa
Vắng khách thơ thẩn tà tà
Ven đường hút thuốc uống trà thảnh thơi
Lao động đâu phải trò chơi
Bước lên bục giảng rã rời chân tay
Nghề dạy học vẫn hăng say
Bốn mươi năm Quốc Học - vui ngày về hưu
* * * * * *
Đạp xe thồ mười hai năm
Bảy sáu - tám bảy hằng trăm loại người
Cong lưng mà đạp hụt hơi
Đèo theo vật dụng tới nơi mệt phờ
Nắng mưa cũng cố ngồi chờ
Nhiều khi gặp chuyện tình cờ khó tin
Buồn thay thế thái nhân tình
Biết bao là chuyện bất bình diễn ra
Khắp các nẻo đường nhà ga
Trời ơi là thế kể ra thêm buồn !

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

HÀ THỊ CỎ TRANH - PHAN NHƯ ( THẦY PHAN VĂN CHẠY )

Bài gửi  Admin on Mon Feb 27, 2017 4:53 pm

MỘT CHUYỆN TÌNH QUỐC HỌC TRÊN CẢ LÃNG MẠN
của Thầy PHAN VĂN CHẠY , DẠY ANH VĂN
Xin giới thiệu với các bạn một chuyện tình
Quốc Học . Một chuyện tình rất Huế . Một
chuyện tình sâu sắc và chan hòa ý thơ .
Chuyện tình ấy thật không thể ngờ . Câu
chuyện tình lâm li , bi đát hơn cả " LOVE
STORY".Câu chuyện tình bắt đầu như thế
này : Ngày xửa ngày xưa có chàng Phan
Như ..."
HÀ THỊ CỎ TRANH
Thời gian là giữa chừng thập niên sáu mươi. Không gian là kinh thành Huế cuối hè đang mùa nhãn lồng sum suê trái chín. Giữa phố xá đông người trên con đường Ngã Giữa, nhưng tôi vẫn bàng hoàng khi chợt thấy bóng áo trắng vải quyến, vải của tuổi học trò. Níu tay T.T.Mẫn, ông bạn lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác, sẳn lòng đi theo tôi đến tận chân trời góc biển dù không bao giờ biết đi để làm gì và đi về đâu.
Chao ơi, đôi mắt màu hạt dẻ và dáng nghiêng của con hạc trắng lạc bầy. Người ấy không đi một mình. Cùng đi với nàng có thể là một người chị hay bà cô. Vào chợ. Qua phố. Lên dốc cầu đứng nhìn mông lung. Chúng tôi cứ lẽo đẽo đằng sau. Người chị (hay bà cô) tỏ vẻ khó chịu. Trừng mắt. Bặm môi. Có lẽ biết bọn tôi đi theo không phải vì bà. Mặc kệ! ... Thỉnh thoảng đang đi người ấy quay lưng, ban phát cho một chút lấp lánh của nụ cười .Có lẽ nàng tức cười vì có hai thằng điên khi không bám theo sát gót. Hay vì đôi guốc gông lẹc xẹc của tôi? (Thưa các bạn, tuổi học trò những năm sáu mươi hoặc đi dép cao su hoặc guốc vông, thuộc cái thời áp chót “Tuấn chàng trai nước Việt”, rất tiết kiệm và rất bảo vệ môi trường!)
Khi chiều đã ngiêng và nắng đã phai. Khi phố tím đã nhạt nhoà. Hai người. Ồ không, chỉ mình nàng và mình tôi (mặc dù nàng vẫn đi bên bà cô và tôi vẫn đi bên ông bạn) trong buổi chiều hôm ấy, bước xuống bến xe buýt dốc cầu Gia Hội. Nàng sẽ đi xe nào đây? Xe số 3 là về Bến Ngự. Số 8 là Kim Long. Số 13 là An Lăng. Số 14 là Tây Lộc. Ô hay,hai người đã bước lên xe số 9: Thuận An.
Nhưng làm sao đây? Hai đứa tôi chỉ có chiếc xe đạp cà tàng đang nằm trước nhà sách Gia Long. Tụi tôi cũng không có một trự nào để đi xe đò. Nhanh như chớp, tôi sẽ đèo Mẫn về nhà của hắn trước bến Toà Khâm và cũng là bến đỗ đầu tiên của chuyến xe Thuận An. May quá, chúng tôi vừa đến thì chiếc xe cũng vừa đỗ để đón khách. Thấy hai mặt mo tụi tôi như vừa chui từ lòng đất lên, nàng khúc khích cười trong khi bà cô nhăn mày khó chịu. Xe lại chuyển bánh. Người bạn của tôi có lẽ không chịu nỗi “đường xa chi ngái”,vả lại hắn chúa sợ bà già không dám về trễ bữa cơm. Cứ mỗi lần đi học về là bà bắt hắn nhăn mặt nhăn mũi uống một hơi ly sữa đặc có đường. Bù lại mỗi ngày hắn xơi vài ba ly cà phê đen đắng ngắt!
Tôi trả xe đạp cho hắn, và tất nhiên là phải chạy bộ theo chiếc xe buýt. Đến bây chừ mình vẫn chưa hiểu vì sao có thể chạy bộ bằng đôi guốc vông? Cũng may xe buýt hồi đó chạy chậm từng quãng để trả và đón khách lên xuống nên tôi có thời gian để đứng thở dốc. Còn nàng thì cứ cười khúc khích (ai nỡ cười chi khi thấy người ta chạy ”xăng mét” đằng sau xe đò khi trăng đã tà nguyệt đã tận!)
Còn bao nhiêu bến đỗ thì dừng lại nhà nàng? Không biết. Mà cần chi biết! Chỉ mong ngày đừng phai và đêm đừng nhạt. Toà Khâm. Đập Đá. Vĩ dạ... Đôi guốc bắt đầu làm tội làm tình khiến đôi bàn chân của tôi khập kha khập khiểng. Tôi cúi xuống liệng quách vào bụi cỏ ven đường. Ôi chân trần mát lạnh, mặc dù đường về Thuận An lúc đó đầy sỏi đá... Quá chợ Vĩ Dạ. Và xe đã ngừng. Hai người bước xuống. Thiếu chút nữa tôi đâm sầm vào bững xe. Và lại nghe tiếng cười khúc khích. Và có lẽ đây là âm thanh ngọt ngào nhất trong cõi trần ai mà tôi đã được nghe!
Đó là một khu vườn sâu hun hút. Tôi đứng nhìn theo ngậm ngùi. Nàng quay lại nhìn tôi một phát. Trời ơi! Bà cô trời đánh kéo vội tay nàng. Đôi mắt hạt dẻ khuất sau đám cỏ tranh còn lấp lánh đến tận giấc mơ của tôi bây giờ...
Kể từ buổi chiều hôm đó, ngày hai buổi sau giờ tan học tôi tìm về ngôi nhà có vườn cỏ tranh lung linh, mong sao một lần gặp lại đôi mắt ấy. Có nhiều khi đứng trước cổng trường Đồng Khánh sau giờ tan học, với tâm trạng của anh chàng cao khều Grand Meulnes trong câu chuyện của Alain Fournier, hy vọng gặp cô tiểu thư ở căn nhà trong khu rừng của dân Bô hê miên. Mùa hạ qua đi. Và mùa thu đến. Kể cả khi Đập Đá ngập lụt tôi cũng đi về đứng trước ngôi nhà cỏ tranh ấy. Nhưng người ơi, người đi biền biệt phương mô? Và tôi không có dũng cảm như anh Meulnes đánh ngựa đi tìm, dù sau này biết rằng đó là một cô gái Huế học trường Nữ Trung Học ĐN mùa hè về quê ngoại. Mà ĐN đâu có xa xôi!
Rồi tuổi trẻ bọn tôi cuốn theo cơn lốc lịch sử. Chiến tranh ly tán mỗi người một nơi. Đành gác lại tuổi vàng với những con đường có hai hàng cây sao, cổng trường vôi tím, và nhất là khu vườn cỏ tranh những sớm mai sương thu những chiều mưa bão... Và cho đến một đêm dạ vũ ở sân bay QS Sài Gòn, giữa tiếng đại bác đì đùng từ chiến trường xa và ánh hoả châu ma quái chập chờn trên thành phố, tôi bàng hoàng gặp lại đôi mắt màu hạt dẻ giữa đám xô bồ vội vã của những người đang cố vớt vát nốc cạn giọt đắng cay dưới ánh đèn và tiếng nhạc khiêu vũ. Nàng sánh vai cùng với một người anh lính tàu bay trong chiếc váy maxi màu lục bảo, lộng lẫy như một nàng công chúa trong chuyện thần tiên. Tôi lặng người ngồi trong góc phòng vời ly rượu vơi quá nửa. Không thể nào tôi quên được màu mắt ấy, màu mắt đã theo dấu quãng đời học trò thơ dại. Gần cuối buổi tiệc, khi tiếng còi giới nghiêm sắp hụ lên, tôi đã lấy tất cả dũng cảm của tuổi thanh xuân, với ly rượu trên tay, với nỗi niềm của anh Meulnes, đến bên đôi mắt hạt dẻ, nghiêng mình và buột miệng ”Chiếc xe đò Thuận An có thằng điên chạy theo, cô còn nhớ không?”
Tôi đã ra về mà không chờ đợi câu trả lời. Tôi đã không dám đánh xe ngựa như Meulnes đi tìm ngôi nhà cổ trong rừng. Tôi đã đánh mất tuổi vàng. Tôi đã... Xin giã biệt mùa hạ hồng. Xin giã biệt những chuyến xe đò màu xanh với những con số 9 Thuận An, 3 Bến Ngự, 5 Từ Đàm... Xin giã biệt đôi mắt màu hạt dẻ. Xin giã biệt Hà Thị Cỏ Tranh...
Huế, April 03
Phan Như

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

HUẾ TÔI - Trương Hoa C . N . S. Đồng Khánh 1968

Bài gửi  Admin on Mon Feb 27, 2017 4:56 pm

HUẾ TÔI ....
By Truong Hoa
THƯƠNG QUÁ HUẾ TÔI, sáng mùa Xuân,
Hải đường khoe sắc, sứ đơm bông,
Cô em ĐỒNG KHÁNH khua guốc gỗ,
Mộng ước ngày Xuân chất chứa lòng.
THƯƠNG QUÁ HUẾ TÔI, trưa mùa hè,
Cô nàng áo trắng xoả tóc thề,
Nón nghiêng che nắng, đi trong gió,
Kim Long, Vỹ Dạ, hướng mô về ?
THƯƠNG QUÁ HUẾ TÔI, chiều mùa thu,
Nhớ sao Đồng Khánh, mái trường xưa,
Màu xanh sân cỏ pha phượng thắm,
In dấu chân em, tuổi vui đùa.
THƯƠNG QUÁ HUẾ TÔI, tối mùa Đông,
Mưa buồn tí tách, thấm ướt lòng,
Xót xa thương nhớ người viễn xứ,
Sông Hương nước lạnh, cuộn giữa dòng...
Huế, vào Hạ 2016
TRƯƠNG HOA ( MÊ HOA ) ĐK 68

Trong tinh thần nao nức đón SINH NHẬT THẾ KỶ CỦA NGÔI TRƯỜNG HỒNG, Trương Hoa ( Mê Hoa ) cũng xin gởi đến trang" Thuở ban đầu trường QUỐC HỌC " một bài Thơ cũng bắt đầu bằng hai chữ " Thương quá ":

THƯƠNG QUÁ NGÔI TRƯỜNG HỒNG

THƯƠNG QUÁ, ngày xưa thuở ngây thơ,
Tóc xoả ngang vai, đợi với chờ,
Sáng chiều hai buổi lê guốc gỗ,
Áo trắng vờn bay, tuổi học trò.

THƯƠNG QUÁ, ngày nao Thầy Cô ơi,
Cao sang, quý phái, đẹp rạng ngời,
Thương Cô, em (dệt) mộng làm cô giáo,
Quý Thầy, em kết nghiệp trồng người.

THƯƠNG QUÁ, uy nghiêm cạnh dòng sông,
Soi bóng Hương Giang, mái TRƯỜNG HỒNG,
Ghế đá, gốc cây, dòng tâm sự,
Phượng hồng tô điểm cỏ sân trường.

THƯƠNG QUÁ, trường tôi sắp đến ngày,
100 năm sinh nhật mùa Xuân này,
Khắp nơi rộn rã về chốn cũ,
Thăm trường, viếng bạn, tạ ơn Thầy.

THƯƠNG QUÁ, trăm năm vẫn cứ thương,
TRƯỜNG HỒNG, ôi quá đổi thân thương,
Thầy Cô nay kẻ còn, người mất,
Sống mãi trong tôi- ĐỒNG KHÁNH TRƯỜNG.

Đầu Xuân ĐINH DẬU 2017
TRƯƠNG HOA( MÊ HOA) ĐK 68


Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

NHỚ TRỜI XƯA - LÊ NGUYÊN HÙNG LINH ( 12 AI - 1973 )

Bài gửi  Admin on Tue Feb 28, 2017 6:19 am

NHỚ TRỜI XƯA
Lê Nguyên Hùng Linh ( Trưa Lê Nguyên )
12 A 1 ( 1972 - 1973 )
Ta nhớ mãi khung trời xưa thuở ấy
Những buổi chiều qua cây cỏ vàng hanh
Ngày vươn lên hoàng hôn xuống độc hành
Ta tung cánh nhịp nhàng trong trời tím
Nhớ những mai ánh hồng thức giấc lịm
Cất tiếng chào ta hót với bình minh
Hồn ngân nga lan rộng cõi vô hình
Ta nhảy nhót một mình từng cây cối
Mắt say nhìn bướm vàng bay ngoài nội
Làn gió sang ta phấn khởi lạ lùng
Điệu nhạc lên phụ họa mấy ngàn thông
Vi vu giọng nhanh trầm trong không khí
Giòng suối xanh chảy mờ thêm tuyệt mỹ
Đêm trăng xuyên muôn ánh sáng trên ngàn
Ta lặng hồn đón gió thổi miên man
Đôi cánh nhỏ chở đầy sương mùa hạ
Rồi mùa thu chuyển mình sang , tàn tạ
Cành lá vàng làm hoen cả hồn xuân
Ta đau thương gục mặt đã bao lần
Người nhân thế vô tình giam ngục lạnh
Và từ đó cuộc đời ta bất hạnh
Còn gì đâu bao mộng đẹp ngày xưa
Ta nhớ nhung qua những buổi trời mưa
Cành lá ướt ta mơ màng trong gió
Hàng thông xanh che mình ta nơi đó
Như cung vàng , điện ngọc của ngôi vua
Chừ ta đây khóc mấy cho vừa
Ôi đã mất một thiên đường niên thiếu
LÊ NGUYÊN HÙNG LINH 12 A 1
Source : Đặc San Xuân Quý Sửu 1973
Quốc Học NĂM THỨ 76

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

THẾ LÀ TÔI VÀO QUỐC HỌC Văn Công Toàn ( C. H.S. Quốc Học Khóa 1968 -1975 )

Bài gửi  Admin on Tue Feb 28, 2017 8:54 pm

THẾ LÀ TÔI VÀO QUỐC HỌC
Văn Công Toàn ( C. H.S. Quốc Học Khóa 1968 -1975 )​
Khi tôi vào Trường Quốc Học thì đã tuổi 16. Cũng xin kể thêm là xuýt nữa thì nghe lời cha mẹ khuyên ở nhà lấy vợ cho yên tâm ?!
Vậy nhưng tôi đã không xuôi tay theo số phận . Mà nói về "số phận " của tôi thì thật là éo le ...
Đúng ra tôi thi đậu vào Đệ thất cũng là năm 1967 tại trường TH Hương Thuỷ. Năm 1970 , trong kỳ nghỉ hè Lớp Đệ ngũ lên Đệ tứ thì do tôi tham gia hoạt động bí mật và bị thương-bị bắt-bị tù đày . Dù mới chưa tròn 15 tuổi tôi vẫn bị giam tù 1 năm tại lao Thừa Phủ-Huế .
Khi ra tù năm 1971 , dù mới 16 tuổi nhưng trông như người đã trưởng thành. Lúc đó chỉ có 2 con đường để lựa chọn :
1/ Ở nhà cùng cha mẹ , lấy vợ-sinh con ...
2/ Tiếp tục đi học lại dù người bị thương tích và học chậm mất 1 năm .
Và cuối cùng thì trí khôn của tôi đã chọn con đường đúng đắn ! Và đó cũng là cơ duyên đưa đẩy tôi vào trường Quốc Học !
Bây giờ tôi không còn nhớ do ai chỉ dẫn hay tự mình tìm ra lối thoát ...Ấy là xin rút hồ sơ học bạ tại trường Hương Thuỷ để nộp xin chuyển lên trường Quốc Học . Một việc thật không tưởng... nhất là tôi vừa mới ở tù "chính trị" ra,lại học trường Huyện nông thôn ?? Vậy mà thật may mắn là học bạ của tôi thuộc diện học sinh giỏi và được Hiệu trưởng TH Hương Thuỷ lúc đó (thầy Lê Đình Loan) nhiệt tình ủng hộ nên mọi việc đều hanh thông !
Cho đến bây giờ tôi càng thấy giá trị to lớn của một nền giáo dục nhân bản vì con người ! Và dù không tin vào số phận,nhưng "số phận" của tôi đã gắn với Quốc Học !
Năm học 1971-1972 tôi học lớp Đệ tứ QH cùng với Phạm Bá Hùng,Lê Viết Tiển,Trương Ngọc Toản,Phạm Phúc,Bạch Văn Thắng...Bạn Nguyễn Thông làm lớp trưởng.
Qua năm Đệ tam tôi vào Ban C Pháp văn và chỉ học nửa niên khoá thì phải bỏ học vì tình hình chiến trận và an ninh bản thân không cho phép.
Từ giã bạn bè,chia biệt QH tôi dấn thân vào Sài Gòn tiếp tục vào hành trình đấu tranh theo lời hịch của Phan Bội Châu "Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả . Anh hùng hào kiệt có hơn ai ?!"
Từ đó trãi qua bao sóng gió gian nguy tôi đều đã vượt lên để vẫn giữ truyền thống hiếu học,ý chí học tập đến cùng...
Và rồi dù từ ngày rời xa QH tôi không có ngày nào ngồi trên ghế nhà trường ,nhưng khi thi băng vào Tú tài IBM năm 1974 tôi may mắn đậu Khối C Văn-Triết !
Thế là vào Đại học cũng kịp với bạn bè Khoá 1967-1974 cùng trang lứa !
Và lúc ấy mới thật sự làm chủ số phận để sau này khôn lớn thành người !!!
VĂN CÔNG TOÀN
Huế 2-2017

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Nhớ BẠCH VĂN MINH. Huỳnh Công Toàn - C . H . S . Quốc Học Khóa 1968 - 1975

Bài gửi  Admin on Wed Mar 01, 2017 9:20 am

Nhớ BẠCH VĂN MINH.
Huỳnh Công Toàn - C . H . S . Quốc Học Khóa 1968 - 1975
Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi,
Ngày xưa ơi chiếc lá lại rơi về***
(1)
Dạo này tôi không còn bận rộn vì công việc nhiều như trước nữa. Ở cái tuổi 60, khi đã nghỉ hưu người ta thường buồn hơn vui và những ký ức xưa cứ mãi quay về.
Ngoài những lúc làm việc, tôi thường lang thang trên Internet, vào Fb của bạn bè, các trang của trường cũ Y Khoa hay trường xưa Quốc Học.
Và tối nay, trên trang “Thuở Ban Đầu” của cựu học sinh Quốc Học tôi tình cờ nhìn thấy di ảnh của một người bạn và đọc lại một vài đoạn của truyện ngắn “Mắt Nai Buồn” anh ấy viết. Nhưng kỷ niệm xưa hơn ba mươi năm trước chợt ùa về. Hồi ấy hai anh em thân thiết biết bao nhiêu! Còn bây giờ? Đối diện với tôi là di ảnh của anh ấy, bát nhan và những nén nhan đang cháy. Buồn! Rất buồn và cũng rất nhiều xót xa. Đời người ngắn ngủi đến thế sao? Tôi đọc lại nhiều đoạn ngắn trong truyện ngắn “Mắt Nai Buồn”, giọng văn trong sáng mượt mà, chân thực và nhiều cảm xúc. Càng đọc càng xót xa bởi lẽ những cái đã mất đi không bao giờ tìm lại được, tất cả chỉ còn là kỷ niệm, mà kỷ niệm thì hư vô, kỷ niệm chỉ có trong tiềm thức, nếu hơn chút nữa, kỷ niệm chỉ còn trong trái tim của mình.
Tôi muốn viết những kỷ niệm về một người anh, đồng môn Quốc Học, lớn hơn một lớp mà chúng tôi tình cờ gặp lại và thân thiết với nhau hơn 10 năm trời ở nơi ‘đất khách quê người”. Anh BẠCH VĂN MINH. Quốc Học 1967-1974.
Tôi vào trường Quốc Học năm 1968, sau anh Minh một năm. Ngày xưa, chỉ hơn một lớp thôi nhưng đàn anh thường rất lớn so với đàn em, với lại tôi học cùng lớp với em anh ấy nên anh Minh rất lớn so với tôi. Mà không chỉ riêng anh Minh, hồi đó tôi nhìn khóa QH 67-74 là những anh lớn, rất lớn, đến gần họ tôi cứ nghĩ mình là “con nít”, nên tôi chưa bao giờ có dịp nói chuyện với anh. Tôi chỉ biết nhà, ngôi nhà khá lớn trên đường NTH, nhớ chiếc xe Yamaha anh ấy đi, nhớ dáng người cao và gầy trong chiếc áo len mỏng màu trắng.
Tôi rời trường QH, rồi nhiều năm liền miệt mài ở giảng đường đại học, ở bệnh viện, ra trường rồi nhận nhiệm sở ở một thị xã vùng cao, bụi-mù-nắng-gió, và chính nơi đây tôi gặp lại anh.
Cho đến giờ tôi cũng không nhớ nỗi chúng tôi gặp nhau lần đầu như thế nào. Có lẽ tôi đã biết anh Minh đang ở Pleiku khi tôi chưa rời Huế, mà cũng có thế tình cờ chúng tôi gặp nhau rồi nhận ra nhau. Nhưng những kỷ niệm hơn 10 năm trời giữa hai anh em thì vẫn còn nhớ mãi.
Ngày đó, Pleiku là một thị xã nhỏ, “đi 5 phút đã về chốn cũ”. Thị xã có 2 khu vực: khu chợ lớn và khu Diệp Kính. Hai khu vực này nối với nhau bằng những con đường “nắng bụi, mưa bùn”. Nhà anh Minh ở khu chợ lớn, ngay ngã tư cổng chợ NTT. Ngôi nhà hai mặt tiền với căn gác gỗ, chung quanh nhà là những cửa hàng buôn bán rất đông vui.
Đó là những ngày đầu vợ chồng tôi lên Pleiku công tác. Tôi làm việc ở bệnh viện tỉnh và cô bạn đời dễ thương của tôi dạy văn ở ngôi trường trung tâm thị xã. Dù rất nghèo nhưng chúng tôi có cuộc sống thanh thản và hạnh phúc, trong lòng không một chút âu lo.
Không phải làm phòng mạch tư nên tôi khá rảnh rỗi. Mỗi sáng Chủ Nhật, tôi và “cô bạn đời dễ thương” thường cuốc bộ từ khu tập thể bệnh viện lên chợ lớn. Lúc đầu tôi chỉ ghé lại nhà anh Minh một chốc rồi đi chợ, nhưng sau tôi để bà xã vào chợ một mình. Tôi ở lại nhà anh Minh tha hồ mà đọc sách, tâm sự, nói chuyện đời, chuyện văn, đàm đạo về những suy nghĩ, những cảm xúc của mình về một tiểu thuyết, một truyện dài hay một truyện ngắn nào đó. Tôi là “bác sỹ gia đình” của gia đình anh ấy, trong nhà tôi khá thân thiết với bác gái (mẹ vợ anh Minh), chị Nguyệt (bà xã của anh Minh) và những đứa em nên tôi tự nhiên như người trong nhà. Nhờ những lần chờ vợ đi chợ như thế anh em đồng môn mới có nhiều dịp chuyện trò với nhau.
Rất nhiều năm sau và cho đến bây giờ vợ chồng tôi vẫn là người thân thiết với gia đình bà xã anh ấy. Chúng tôi hai lần được mời đi họ, cưới vợ cho hai em của chị Nguyệt. Bé Kitty, con gái đầu của tôi cũng hai lần cùng với bé BDTN (con gái đầu của anh Minh) xách lồng đèn cưới hay bưng quả nhà trai nạp lễ.
(2)
Anh Minh là người sống nội tâm, tôi nghĩ thế, ít khi thấy anh vui quá mức, cũng chưa bao giờ thấy anh ấy …nhậu. Anh thường ngồi trầm ngâm bên ly café, điều thuốc. Lúc mới quen anh ấy đang dịch từ tiếng Pháp truyện “Cây đèn biển nơi tận cùng thế giới” của tác giả người Pháp thường viết những truyện phiêu lưu mạo hiểm mà lúc nhỏ tôi rất thích: Jules Verne. Hồi đó anh cứ thắc mắc tên tiếng Việt của các lá buồm trên các tàu buồm thế kỷ XIX, cái đó thì tôi chịu. Cuốn truyện sau này được NXB: Thông Tin Gia Lai Kon Tum ấn hành, năm 1987.
“Cây đèn biển nới tận cùng thế giới là câu chuyện về một ngọn hải đăng trên một hòn đảo phía Nam của mũi Horn, điểm cực Nam của Châu Mỹ, thuộc nước cộng hòa Argentina. Sau khi khánh thành ngọn đèn biển này, toàn bộ công nhân xây dựng, kỹ sư... đã được rút đi chỉ để lại trên đảo một toán bảo vệ gồm ba người là Vasquez, Felipe và Moriz. Tổ bảo vệ này có trách nhiệm vận hành đèn hằng đêm và bảo vệ nó. Họ sẽ ở lại đảo trong một thời gian nhất định, sau đó ở đất liền sẽ có một tổ bảo vệ khác ra thay thế họ để tiếp tục công việc trên.
Mọi việc đã diễn ra khá suôn sẻ trong thời gian đầu. Cho đến một ngày kia, trong một lần đi săn thú, toán bảo vệ hạ được một con nai đã bị thương do một viên đạn mà ai đó đã bắn. Sự việc này đem đến một nỗi lo ngại: Trên hoang đảo này đã có người ngoài họ, mà những người này lại có súng.
Những người đó là ai, người lương thiện hay kẻ bắt lương? Câu trả lời đến ngay sau đó với cái chết của hai nhân viên bao vệ là Felipe và Moriz. Họ bị hạ sát trong khi đang thi hành nhiệm vụ, bởi một băng cướp có vũ trang; bọn chúng khoảng 12 tên, tên cầm đầu là Kongre, một tên cướp khét tiếng ở vùng biển này.
Chỉ còn lại một mình tổ trưởng Vasquez đối mặt với một băng cướp có số lượng đông hơn gấp nhiều lần.
Bằng sự dũng cảm và trí thông minh Vasquez đã bảo vệ được mình và cũng đã nhiều lần ngăn không cho bọn cướp biển trốn thoát để chờ chiến thuyền của chính phủ trở lại bắt gọn những tên cướp biển”.
3.
Nhà anh Minh có một kho sách, truyên. Nhưng tập sách, truyện, mới có cũ có được xếp ngay ngắn trên một kệ sách khá rộng. Hồi đó tôi thường đọc các truyện của các nhà văn, các Nguyên Soái Liên Xô (cũ) viết về thế chiến thứ hai. Truyện “Bầu trời chiến tranh” là hồi ký của Nguyên Soái A-Pô-crư-skin viết về những trận không chiến với không quân Đức. Truyện “Chiến tranh đã bắt đầu như thế" hồi ký của Nguyên soái Ba-gra-mi-an viết về những ngày đầu của chiến tranh, năm 1941”. Truyện "Đất Vỡ Hoang" của Mikhail Sholokhov đưa tôi đi xa hơn, đến tận những ngày của năm 1917 ở Nga, truyện thật dữ dội và có những điều thật đáng sợ. Tôi cũng đọc ở tủ sách này “Sông Đông êm đềm”; “Một thời để yêu và một thời để chết” … anh Minh có vẻ ít thích mấy truyện này, có lần anh ấy hỏi:
“-Sao Toàn thích mấy truyện chiến tranh này?”
Thật ra tôi không thích truyện chiến tranh, tôi thích môn lịch sử và tôi cũng thích đọc những truyện có nói về khoa học kỹ thuật, về vũ khí, chắc nó phù hợp với cái tính tò mò nghịch ngợm của tôi hồi nhỏ.
Tiểu thuyết mà anh em chúng tôi bàn luận nhiều nhất là “Anna Karenina” của nhà văn Nga Lev Nikolayevich Tolstoy. Thật ra câu chuyện không có gì phức tạp, chỉ là sự phản kháng của một người phụ nữ đẹp không được sống theo ý thích, theo tình yêu của mình và kết thúc bi thảm cuộc đời của cô ấy(Anna). Một tay phong lưu công tử, sống phóng túng và tự cao Vronsky (người tình của Anna trong truyện) có thể coi là người đã giết Anna Karenina.
“Trong Anna Karenina, tình yêu có thể là hạnh phúc, có thể là phước lành nhưng cũng có thể là tai họa.Tình yêu, người ta thường gắn chặt nó với hạnh phúc, nhưng với Tolstoy, nó gắn chặt với nhiều bất hạnh”.
Sau này, nhiều lần đọc lại Anna Karenina và tìm hiểu thêm tôi mới biết rằng cốt truyện được dựa trên một câu chuyện có thật.
“Một Anna có thật
Lật lại hoàn cảnh sáng tác của cuốn tiểu thuyết, có thể thấy cách lý giải trên có lý. Tolstoy viết Anna Karenina không xuất phát từ cảm hứng lãng mạn. Hồi năm 1873, ông đang theo đuổi tiểu thuyết về Peter Đại đế, nhưng chủ đề này quá khó, những thứ cần nghiên cứu nhiều đến mức tưởng chừng như không bao giờ kết thúc. Tolstoy mệt mỏi, ông vẫn muốn viết về lịch sử, nhưng nghĩ nên khai thác theo hướng riêng tư và bi kịch hơn. Đúng lúc đó, ông bắt gặp từ đời thực một câu chuyện.
Trong cuốn tiểu sử Tolstoy của mình, tác giả Henri Troyat giải thích nguồn gốc của Anna Karenina rất rõ ràng. Thời đó, đại văn hào Nga nhớ lại một sự việc có ảnh hưởng sâu sắc đến ông, xảy ra vào năm 1872, một năm trước khi ông đặt bút viết Anna Karenina. Ông có một người bạn hàng xóm tên là Bibikov, người này có nhân tình tên là Anna Stepanovna Pirogova, một phụ nữ cao, có gương mặt tròn và tính cách dễ mến. Nhưng về sau Bibikov bỏ rơi Anna để theo đuổi nữ gia sư tiếng Đức của con mình, thậm chí còn định cưới cô gái này.
Ý thức được mình bị phản bội, cơn ghen của Anna bùng nổ, nàng bỏ đi mang theo một ít quần áo, lang thang 3 ngày ở vùng nông thôn và đau đớn đến điên cuồng. Cuối cùng, nàng ném mình xuống dưới bánh xe lửa chở hàng ở ga Yasenki. Trong bức thư tuyệt mệnh gửi Bibikov, nàng viết: “Kẻ giết ta chính là chàng. Hãy hạnh phúc, nếu một tên sát nhân có thể được hạnh phúc. Nếu thích, chàng có thể chiêm ngưỡng xác ta trên đường ray Yasenki”.
Đó là ngày 4/1/1872.
Ngay ngày hôm sau, Tolstoy đến ga Yasenki như một người quan sát, khi việc khám nghiệm tử thi được tiến hành với sự có mặt của một thanh tra cảnh sát. Đại văn hào, đứng trong góc nhà kho, đã không rời mắt khỏi tử thi của người phụ nữ được đặt trên bàn,
Hổ thẹn và cũng thật trong sạch làm sao, ông nghĩ, cái gì đã dẫn người phụ nữ bất hạnh đến cảnh chết tang thương và đơn độc, nếu không phải là tình yêu?
Một cặp đôi khác, cuộc sống lúc đầu nhiều sóng gió nhưng cuôi cùng là cuộc sống hạnh phúc đó là Kitty và Levin. Mối tình giữa Levin và Kitty thành chính là nhờ Anna đã khiến Vronsky đem lòng yêu, bởi Vronsky chính là hôn phu của Kitty trước đó. Anna đã rước Vronsky vào cuộc đời mình và rước luôn tai họa, còn Kitty vì mất người đàn ông đó mà đến được với người tốt hơn. Bất hạnh của người này lại là may mắn của người khác.”
Tôi yêu mến nhân vật Kitty và vì thế tôi lấy tên Kitty để đặt tên ở nhà cho con gái đầu lòng.
Tôi và anh Minh nói nhiều về tiểu thuyết này, có lần tôi nói:
-Chuyện chỉ có thế mà nhà văn viết thành một trường thiên tiểu thuyết, họ giỏi quá anh Minh hí.
- Thật ra cốt chuyện chỉ là một phần nhỏ trong một tiểu thuyết, đó là cái lõi để mọi chuyện xoay quanh. Trong đó nhà văn sẽ đưa vào nhân sinh quan của mình qua từng nhân vật, mô tả cuộc sống của từng giai cấp, họ có thể mô tả về phong tục tập quán, mô tả về phong cảnh thiên nhiên… Cái giỏi của họ là ở đó. Bởi thế nhà văn phải là người có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, họ phải đi nhiều, trãi nghiệm nhiều. Họ cũng phải tham khảo nhiều, lấy nhiều tư liệu mới có thể viết được.
Cho đến giờ tôi vẫn áp dụng lời tư vấn của anh, đó cũng là lý do tôi viết “Nhớ Bạch Văn Minh” mà cứ miên man trong những cuốn truyện đã đọc ngày xưa.
Tính tôi hay “ướt át”, cứ đọc truyện nào mà nhân vật chính có số phận bi thảm là tôi buồn rầu đến mấy ngày. Thấy thế anh Minh cười bảo:
-Truyện phải có “bi” mới hay chứ, cho nên mới có “bi kịch cổ điển Pháp” nổi danh. Truyện đọc xong để lại ray rức buồn bã trong lòng người đọc, làm người đọc nhớ mãi mới là truyện hay. Truyện đọc xong quên ngay không để lại cảm xúc gì cho người đọc chỉ là để đọc cho vui thôi.
Rôi anh bảo tôi:
“-Tính Toàn nhạy cảm quá, khó viết truyện bi được, cho nhân vật của mình gặp số phận éo le chắc khóc quá”.
Anh Minh nói chơi vậy mà đúng. Sau này tôi viết truyên “Thảo của tôi” hết chương 1, khi Hoàng và Vân chia tay tôi như “người mất hồn” (lời của vợ). Phải hơn ba tháng sau tôi mới viết tiếp chương 2 và 3 (Truyện này Toàn viết xong rồi, định đưa lên cho anh em xem nhưng còn … “dị”.)
Mấy ngày sau anh Minh đưa cho tôi hai tập của tiểu thuyết Ana Karenina và nói:
“-Thấy Toàn thích, mình tặng Toàn hai tập truyện này, mình có hai bộ lận!”
Hai tập truyện đó tôi vẫn còn giữ cho đến ngày nay.
4.
Anh Minh có một người anh bà con, cũng tên là Minh, ở Pleiku. Hơn chúng tôi khoảng 10 tuổi. Anh Minh (bà con) bị bệnh đột ngột. Sau khi điều trị ở hồi sức Nội một ngày anh ấy được chuyển về khoa tôi điều trị với chẩn đoán Viêm màng não mủ. Tôi và anh BVM đã nhiều đêm thức trắng trong bệnh viện để chăm sóc, cố gắng cứu chữa, nhưng tiếc thay anh ấy không qua khỏi. Trong những kỷ niệm với anh BVM đây là điều tôi buồn rầu nhất, tôi luôn thấy mình có lỗi dù tôi đã cố gắng hết sức mình và điều trị không sai sót. Sau này anh em tôi không nhắc lại chuyện này, nỗi buồn lúc nào cũng gặm nhắm chúng ta, và trong tất cả các nỗi đau thì ân hận có lẽ là nỗi đau làm ta ray rức nhất. Trong chuyện này chúng tôi đã làm hết sức mình, không sai sót cho nên không có điều gì phải ân hận. Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi bớt buồn đau.
Ngoài chuyện văn, “đàm đạo về những suy nghĩ, những cảm xúc của mình về một tiểu thuyết, một truyện dài hay một truyện ngắn nào đó” chúng tôi còn nói chuyện đời. Theo tôi nhận xét thì anh Minh “già trước tuổi”. Những “chuyện đời” anh nói khá sâu sắc và cũng lắm điều tế nhị. Câu chuyện tôi nhớ mãi là một chuyện anh Minh kể, anh bảo truyện được đăng trên báo. Truyện nói về “tâm lý bầy đàn” (hồi đó chưa có khái niệm này)…
Bà xã anh Minh là người phụ nữ đẹp, phải nói là rất đẹp. Dáng người thanh mảnh, nước da trắng ngần, khuôn mặt sáng và chiếc cằm đầy đặng phúc hậu. Dù cô ấy nhỏ tuổi hơn tôi nhưng bao giờ và cho đến bây giờ tôi vẫn gọi là chị và xưng tôi. Ngược lại chị Nguyệt cũng thường gọi tôi là "anh Toàn" và xưng tên. Nhớ một lần tôi dại dột khen chị đẹp trước mặt bà xã, “cô bạn đời dễ thương của tôi” thay đổi nét mặt và bỏ về trước. Hồi đó ba tôi đang lên chơi, ông la (mắng) tôi một trận và bắt vào xin lỗi vợ.
Chuyện xin lỗi vợ thì tôi đã có “bí kíp”: Lỗi nhẹ (tạm gọi là lỗi cấp độ 1) thì có câu: “Thôi mà em, cho anh xin, lâu lâu dễ tính một chút cho anh nhờ!” Lỗi cấp độ 2 thì có câu: “Cho anh xin lỗi nhé!” Lỗi cấp độ 3 thì áp dụng: “Anh biết lỗi rồi, tha lỗi cho anh…”. Lỗi cấp 4 thì: “Tội của anh nặng lắm, tha thứ cho anh em nhé”. Lỗi cấp 5 thì “ Tha lỗi cho anh, quên hết đi, mình làm lại từ đầu nghe em”. Lỗi cấp 6 thì…chịu, chỉ cầu nguyện, may rủi nhờ trời. Trường hợp này chỉ là lỗi cấp 2 thôi, ba mươi giây là “sóng yên biển lặng”, chiều hôm đó gọi vợ đi café là xong. Nhưng qua việc này tôi nhớ mãi câu nói của ba tôi: “Không được khen phụ nữ trước mặt một người phụ nữ khác”. Từ đó đến giờ, chấm điểm cho phụ nữ bao giờ tôi cũng cho từ 9,75 trở xuống. Điểm mười luôn luôn là điểm của “cô bạn đời dễ thương”, cho dù đó là chấm điểm cho Hoa hậu Hoàn Vũ hay cho Hoa hậu Việt Nam.
Lại cũng nhớ một lần (tình tôi hay lang mang lắm, y học gọi là ‘tư duy lai nhai”), khoảng sau rằm tháng giêng, chị Nguyệt than: “Ra tết mà còn thèm bánh tét”. Bánh tét thì nhà tôi còn, cuối năm bệnh nhân cũ cho. Tối đó tôi mang cho chị Nguyệt một đòn. Tôi còn nhớ mình loay hoay tìm tờ báo, bà xã tôi bảo “-Để vậy cũng được mà anh”. Tôi không chịu, bảo: “Quà không quan trọng bằng cách đưa quà đó em”. Tối đó trên đường đi tôi ghé sạp báo xin một tờ báo cũ. Tôi viết những dòng này để nói lên hồi đó tôi quý mến vợ chồng anh biết bao nhiêu.
Anh Minh ít thích đi chơi, thường tôi chỉ gặp anh ấy ở căn gác trên đường NTT, hay trong mấy quán café cóc quanh nhà. Sau này khi anh Minh mua nhà riêng trên đường NVT và cả nhà chuyển về đó thì chúng tôi ít có dịp gặp nhau hơn. Ít chứ không phải là không vì những lúc rỗi rảnh tôi cùng đến chơi và thình thoảng mượn cái đầu máy video về xem phim.
Năm 1990 nhà nước cho bác sỹ mở phòng mạch tư, tôi lại có thêm công việc bận rộn khác là khám bệnh ở phòng mạch: “Sáng khám, trưa khám, chiều khám, tối khám, nửa đêm cũng bị kêu dậy …khám”. Tôi ít có thời gian rảnh rỗi nên từ đó tôi ít gặp anh Minh, cho đến một ngày tôi nghe tin anh ấy chuyển về Huế.
5.
Tôi gặp anh Minh hai lần ở Huế. Lần đầu tôi đến nhà, ngôi nhà này cũng khá thân quen với tôi. Cũng lạ, trong đời tôi chưa bao giờ đi tìm anh Minh mà không gặp. Sau khi một mình đi thăm Đại Nội mới trùng tu, tôi mua tặng anh cuốn băng cassette những bài hát về Huế (bán ngay trong Đại Nội). Hai anh em ngồi nghe cuốn băng và nói chuyện về Huế xưa! Về “Chín chúa mười ba vua”, tôi được nghe giải thích về những câu ca dao Huế “Một nhà sinh được ba vua/ Vua còn vua mất vua thua chạy dài”; “Số đâu có số lạ lùng/ con vua mà lại hai chồng làm vua”; “Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết/ Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”… Thường trong các câu chuyện với anh Minh chúng tôi ít nói đến chuyện gia đình, chuyện bạn bè. Chúng tôi chỉ nói chuyện thơ văn, chuyện đời và lần này nói về Hoàng thành Huế, về các giai thoại triều Nguyễn, về lịch sử…Phải công nhận kiến thức của anh Minh về lĩnh vực này thật sâu rộng.
Cuối năm 2002. tôi tình cờ gặp anh Minh ở quán Huyền Anh bên bờ sông Hương. Tôi đi với bà chị và các em ở Huế, anh Minh đi cùng với nhiều người bạn. Chúng tôi chỉ bắt tay nhau, chào hỏi vài câu rồi chia tay. Đó là lần gặp sau cùng.
Rồi tôi nghe tin anh ấy mất vì căn bệnh nan y!!!
Hôm nay, viết “Nhớ Bạch Văn Minh” như một nén nhang muộn màng tôi thắp cho anh ấy. Nén nhang mà lẽ ra tôi phải thắp cho anh nhiều năm trước, khi anh từ giã cuộc đời.
Và cho đến lúc này tôi vẫn thấy mình có lỗi, …với anh!
Huỳnh Công Toàn
QH 68-75
….
*** Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi,
Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về
và một số đoạn trong ngoặc kép có nguồn internet

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

MỘT THỜI ĐỂ YÊU Huỳnh Công Toàn - Cựu Học Sinh Quốc Học 1968 - 1975

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 7:49 am

MỘT THỜI ĐỂ YÊU
Huỳnh Công Toàn - Cựu Học Sinh Quốc Học 1968 - 1975

Thân tặng M.Hương
Quê tôi ở thành phố Huế, nơi có những đền đài cổ kính, giòng Hương Giang thơ mộng, hiền hòa. Soi bóng xuống giòng sông là cầu Mới và cầu Tràng Tiền, những cây cầu để lại trong tôi nhiều kỷ niệm.
Thời phổ thông tôi học trường Quốc Học, ngôi trường lớn của thành phố, dành cho nam sinh. Bên cạnh trường Quốc Học, cách con đường Nguyễn Trường Tộ nên thơ, là trường nữ Đồng Khánh, nơi cất giữ mối tình đầu của tôi.
Năm lớp Sáu (hồi ấy gọi là đệ thất) tôi học hành chẳng ra gì, chơi là chính, cuối năm được xếp vào hạng “thường thường bậc trung”. Hè năm lên lớp Bảy, thấy tình hình nguy ngập quá, mẹ tôi cho đi học hè ở trường tư thục Hưng Đạo. Nộp tiền, học một buổi rồi nghỉ luôn, chẳng buồn đến dự "lễ bế giảng".
Năm lớp Bảy cũng chẳng có gì đặc biệt, thỉnh thoảng hứng chí lên tôi cũng cố gắng được một chút rồi đâu lại vào đó. Có lẽ các thầy cô dạy tôi năm ấy không ai nhớ được em học sinh trắng như cục bột, hiền lành nhưng lười học, chẳng có gì đáng nói.
Mọi việc thay đổi hẳn vào hè năm lên lớp Tám, đó là mùa hè êm đềm và đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi. Hè năm ấy tôi cũng học hè ở trường Hưng Đạo và … tôi gặp em (xin cho tôi được gọi như thế, mặc dù em…cùng tuổi và học… cùng lớp với tôi, vì tiếng “em” gọi lên bây giờ gợi cho tôi những rung động ngọt ngào).
Đó là cô bé có mái tóc dài, chiếc áo dài trắng, dáng người thon thả, đôi mắt sáng và cặp kính cận. Em học rất giỏi, giỏi cho đến mức tôi cảm thấy ngượng mỗi khi nhìn hay nghĩ đến khuôn mặt thiên thần ấy.
Từ những ngày đầu gặp em vào mùa hè năm ấy, tôi như một con người khác. Tôi học hè siêng năng không thua học sinh giỏi bây giờ học thi đại học. Hai đứa tôi thường chia đôi bảng đen để giải bài tập mỗi khi đến lớp.
Năm lớp Tám tôi học giỏi hẳn, rất nhiều bạn trong lớp ngạc nhiên. Tôi lo học và xem chừng bên Đồng Khánh em đứng thứ mấy để rồi cố gắng đứng thứ hạng cao hơn.
Bận học nhưng ngày nào tôi cũng tìm cách để nhìn thấy em một lần. Hồi ấy học sinh Quốc Học về trước học sinh Đồng Khánh năm phút. Chuông reo là tôi vội chạy ra lấy xe, hối hả đạp qua cầu Mới và về lại cầu Tràng Tiền. Thông thường tôi gặp em ở đoạn giữa cầu, chỗ nhịp cầu tạm (cầu Tràng Tiền lúc ấy bị gãy, nhịp giữa cầu làm tạm bằng gỗ). Hai đứa chào nhau bằng một nụ cười và tôi thấy lòng… bay bổng.
Mỗi chiều nghỉ học tôi thường đạp xe ngang qua nhà em, ngôi nhà nằm bên giòng sông Đông Ba xinh đẹp. Để làm gì tôi cũng không rõ vì rất ít khi được nhìn thấy em.
Cứ như thế suốt nhiều năm sau, cho đến khi hai đứa cùng vào đại học tôi vẫn không nói với em một lời nào (sao hồi ấy tôi dại thế nhỉ?).
Những năm học Y khoa Huế, kể chuyện cho bạn cùng lớp (và cùng lớp với em ngày xưa), mấy bạn gái trong lớp tôi gọi đó là “Mối tình mòn nhiều lốp xe đạp”.
Rồi em đi lấy chồng khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Huế, còn tôi vẫn miệt mài ở bệnh viện, hai đứa tôi còn gặp lại nhau một lần, đó là lần em về Huế sinh cháu đầu lòng.
Hơn 30 năm*** đã trôi qua kể từ những ngày ấy, bây giờ em là cô giáo ở một thành phố lớn. Còn tôi: một bác sỹ nhiều năm liền gắn bó với vùng đất đỏ cao nguyên. Hơn 30 năm nhưng tôi thấy như chỉ mới hôm qua. Nhiều khi tôi nghĩ nếu không gặp em ngày ấy thì có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang một lối khác.
Hôm nay ngồi viết những dòng này như một lời cảm ơn, một chút tình còn đọng lại, và… xin cho tôi được gọi tên em, hai tiếng…M.Hương.
Huỳnh Công Toàn
C.H.S.Q.H. 68-75
....
***Bài viết từ năm 2005

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Trường Quốc Học - Đồng Khánh MỘT ĐÔI TÌNH NHÂN cho văn học Việt By Phạm Văn Sau , Cựu Học Sinh Quốc Học Khóa 1961 - 1964

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 11:04 am

Trường Quốc Học - Đồng Khánh
MỘT ĐÔI TÌNH NHÂN cho văn học Việt
By Phạm Văn Sau , Cựu Học Sinh Quốc Học Khóa 1961 - 1964
Hai trường Quốc Học Đồng Khánh Huế ( làm nên Một Đôi Tình Nhân cho văn học Việt ), tọa lạc sát nhau, được cách ngăn bởi hai bức tường cao, cao vừa hơn tầm chân nhón, giữa là một con đường nhỏ gầy sâu hun hút. Nới rộng cho thêm lãng đãng, nơi Ai đã từng hơn một lần rảo bộ vào con đường “ĐỜI CẦN CÓ NHAU” này, mới cảm nhận hình như có bàn tay nào đó, lén níu cho nam nữ tiện dịp nối kết tồn sinh, bằng cách đã sắp xếp : Phải có những ô lổ thông bông và một con đường râm mát, lác đác những phượng vĩ lãng đãng như thế , để mà “nhắn tin và dặn chừng”
Mặt tiền, là đại lộ Lê Lợi giáp bờ sông Hương, công viên dài rất lớn. Riêng ngay công viên Quốc học dựng lên bia đài đồ sộ (đối diện bên kia sông là Ngọ Môn ) Tiếp là bậc cấp, nhẹ nhàng nối công viên Đồng Khánh với hồ nước, vòi phun cùng ghế đá và vài tượng đài nho nhỏ, bồn cỏ xinh xinh, thanh bình dưới những tàn cây xanh, xen lẫn gốc si già sợi rủ ,khéo tạo nên cảnh Trai hùng sánh vai cùng Liệt nữ . Sông núi hữu tình, uy nghi đường bệ mà lại rất thơ, Ai ? là khách vãng lai sẽ không ngờ tới
Tuy cùng chung đi về, nhưng hai trường nam nữ riêng biệt được tách ra ; Nam nhanh gọn , nên giờ học cho vào ra sớm hơn mười lăm phút . Một phân bố về thời gian rất thông minh , mười lăm phút, vừa đủ kịp tống khứ cái “thứ ba học trò” rề rà choán chỗ, ùn tắt giao thông. Sót chăng? Còn lại toàn dân lãng đãng theo đòi đàn anh , đàn thầy , thuộc giòng họ “ Nghễ ” cựu trào , hay dạng trai khôn tìm vợ.
Đường phố đã bắt đầu , bên ngoài ra vẻ như yên ắng , khi trật tự đã được vãn hồi , nhưng thực chất là cả một sôi động nao nức bên trong nơi lòng “dân đợi ”, cũng như hàng ngàn cánh bướm trắng sắp bung vỡ trong bốn bức tường , đang lắng đợi tiếng trống thùng:
Vài cánh bướm “nhi đồng”, đang mãi miết ngoài sân chơi , hay nơi công viên vội ngưng ngay trò chơi lò cò nhảy dây, bịt mắt bắt …, vội vàng mở nút thắt ; hai tà ngang lưng , lẹ tay vuốt thẳng rồi nhanh chân nhập hòa vào đám lao xao vỡ tổ , hồn nhiên dẫn đầu : Vẽ trắng cho đẹp những giấc mơ xanh không hẹn , cứ như thế Ai mà sắp xếp ? Mảng trắng cứ loan dần cả phố Huế gần cả tiếng đồng hồ .
Huế là rứa nơi mỗi ngày, nên Huế mãi non tơ, ...và thêm lạc lòng Ai đó : Mạ ơi! Con ...lỡ,.. qua cầu gió bay. ( Không lẽ lại giám nói thiệt : Mạ ơi! Hư hay không?
Rằng: Mạ sống một nửa thôi!
Nửa kia, dư luận sóng đời phán phê
Dù sao con đã thăng hoa góp phần, để làm giàu thêm nơi pho tình sử )
Không lẽ : “Đã liều ba bảy cũng liều – Liều như con trẻ chơi diều đứt dây”.
Dạ hỏi lòng : Sao dễ dàng ?
Trên cành lá lục –bướm vàng lượn quanh
………………… ( Tình Em)
Tôi xin được thêm lần nữa cám ơn “ Mạ Ba đã sinh ở Huế , đã đẻ con ra giữa thành phố này ” và Hòa anh tôi là biểu tượng của ‘‘ngôn thân thuyết’’ về nghị lực cuộc đời, là điêu khắc gia nhân ái, tô tạo nên những nét đẹp dẫn lối cho yêu thương...,Cảm ơn Ai “Đã dựng Quốc Học Đồng Khánh bên nhau ” . Để tuy xa mà gần , tuy gần mà xa . Cũng như Huế tuy tán , mà tụ.
Nếu lỡ như rồi đây phải tán ,
Tôi có đắng lòng, xa Huế ?
Xa, mới thấy hết được vẻ đẹp của Huế với cái khẳng định của Phạm Quỳnh: Ngự Bình không cao như núi Phú Sĩ nước Nhật , Hương Giang không rộng như sông Hoàng Hà nước Tàu , nếu nói rằng : Sông ấy , núi ấy , làm cản trở cho chốn đế kinh thì thật là nói quá :
Ai đã từng đi xa và trở về:
Vẻ đẹp của Hương giang không giống cái đẹp cuồn cuộn với mầu mỡ phù sa như Cửu Long hay Hồng Hà .
Nước trong như suối ,
Dừng chân nơi Thềm Nghỉ , đoạn được nới lồi ra , nối giữa mỗi hai vài cầu Trường tiền nhìn xuống đáy sông như nhìn xem cá lội trong hồ. Trông ngược thượng nguồn với dãy Trường Sơn xanh thẳm, đợi nắng về tha hồ mà tán sắc ánh sáng đủ màu với lam , hồng , tím , đỏ , vàng , xanh…,
Xuôi về Cồn Hến như một đảo nhỏ xanh um , chặn giữa tạo thành ngã ba , cho con nước dùng dằng rẽ nhánh . Cám ơn Effel đã gởi gắm cả tâm hồn lãng mạn nơi chiếc Cầu và Thềm Nghỉ , hầu “nhắc nhở giùm” bộ hành muốn kiếm chút thơ mộng, sớm biết mà dừng chân . Hầu góp thêm cảm quan mới thấy hết , con sông nhỏ nhắn xinh xinh vắt qua phường phố , như một dãi lụa đào còn làm duyên theo kiểu Thu Bồn : Nhịp cầu cong mà con đường thì thẳng , một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu ? Con sông dùng dằng con sông không chảy , sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
……Đất nước nát tan vì quá nhiều người yêu nước , lại còn yêu theo kiểu độc quyền , lỡ như chiếc cầu có mệnh hệ gì trong những ngày tao loạn , thử hỏi vòng tay quá bé nhỏ tôi ơi, làm được gì cho Huế ?
Huế phải tán !
Tôi mới mạnh cớ, vin vào lý đó để được có dịp bỏ Huế mà đi .
(một đọan thư gởi Thúy, Đúng vào lúc em gái, vào đệ tam Đồng Khánh năm 1966:
Hôm nay xa Huế , Anh đã đánh mất giòng Hương có cầu Trường Tiền nối liền hai bờ thân mật , đánh mất tuổi trẻ vô tư với bàn tay năm ngón chìa ra :
-Thầy ơi ! Cho Em một đồng
Mai này, Anh còn gì để mất ,và hiện tại không biết mình mất hay còn? Sân phi trường phẳng lặng nhớ nhung như sân trường ngày nghỉ học và mưa càng lúc càng nhiều như lệ nhỏ xuống kinh thành , tôi chợt nhớ đến câu thơ của Verlaine : Il pleut dans mon coeur comme il pleut sur la ville (mưa trong lòng cũng như mưa ngoài phố). Đời đã làm không biết bao nhiêu chuyến đò , tại sao vẫn một cảm giác buồn?... )
Tôi , con ngựa hoang – cuồng ngông ham phóng tới
Để bao năm vời vợi
Kiên khổ chờ đợi một bóng hình xa
Mặc cho rêu phong phủ kín đời lan nhã
Dài tay
Ngoắc buồn bã
Mộng ước tưởng chừng hóa đá lạnh nghìn thu
Tôi , hun hút mê mải
Phó mặc đời Em chung cục sa mù
……………………..(Mưa và Em)
Đi cho chân cứng đá mềm, đi mà tự trụ thẳng đôi chân , gọt bớt cái “gia trưởng” và cái lòng cứ sửng như núi Ngự. Đi để giũa mài, mòn bớt cái bản chất ưa dựa dẫm hơi hám, rồi tự hào vỗ ngực xưng tên ta đây là giòng họ , là “thầy” người khác, rồi lại ngủ quên trên chiến thắng , cái thứ liệt oanh đã từng rảnh rang ngồi tô đậm, mà lại quên đi những thống truyền làm nên nhân ái. Và giữ những thứ cần thiết, để quyết giữ dù chết, cũng không từ .
Nhưng...Cũng cho tôi xin được chút dài tay, theo gió thoảng mây trôi mà gởi lời :
Hạnh phúc Đời, đâu phải là lát cắt của thời gian , mà phải được trải dài theo “biện chứng”. Hủy diệt cái “phản đề” làm chi? Phải chăng! Đó là việc ngông cuồng ngạo mạn, thất nhân, ác đức, phản lại cái Đạo Trời , Đạo Người. Chặn tiến hóa của nhân loại, sẽ gây nên một thảm họa khôn lường .Bởi thế đã là cuộc đời, nơi những ai đó nhớ giùm cho: Nếu không một sức mạnh nào thắng ta nổi, thì tự ta phải hủy diệt.
....Ai! Đã từng trải lòng với những gợn sóng ba đào, thấm nhập vào giòng Hương , mới nghe hết được vọng âm , thì thầm thiên thu đọng bao dỗi hờn thiên cổ, nỗi trách đời với lời thì thào u uẩn đắng tợ xé lòng , mới thấy hết cả một chuổi dài trải nghiệm , qua bao quặn khúc mà lại vẫn giữ nét non tơ .
Tán mà Tụ , Đi mà Về .
Xa Huế, để lòng mình biết sống cùng sống với , biết hòa ái cho cái tâm hồn thêm mềm mại trẻ son
Đi mà Về:
Mưa ,
Tưới đẫm tôi ngập hồn chìm bóng tối
Kẻ lạc rừng hoang hoải buông trôi
Chạnh chốn mưa xa -hoang phế cả cuộc đời
Bên kia sông
Cuối con đường giấc mơ
Em hiện ra – trơ vơ – Bài thơ tình chưa đủ
Giữa cơn mưa mờ phủ
Tôi thấy mình như rủ gục .Ơi ới gọi đò khuya !
……..( Mưa và Em)
Dù nơi bến trăng mơ. Ai! Dáng sững tự hào ?
Không lẽ dân Huế, phải cần chùa chiền thật nhiều, hầu mong kinh vọng chuông ngân, mới mài mòn bớt cục Tôi quá lớn ,
Nơi lòng này chỉ thầm mơ tâm hồn Núi Ngự nở Đóa hoa “Vọng Nhân” rủ gọi Ai về:
Nhưng, Tôi phải ra đi, như kẻ sợ mất dịp . Đi cho ơn sâu, thêm nghĩa nặng với những người từng kiên trì ở lại, quyết giữ cho còn những thứ gì “rất Huế” , dù phải trải qua bao dâu bể gánh gồng gian khổ với bão táp phong ba . Để cho những Ai nghĩ đến Huế:
Mỗi lần nhớ tới Mẹ
Nhớ đến Huế mình cảnh tầm tả lụt mưa
Trên nước nổi
Mẹ kiệt sức xới bừa gieo sự sống
Xin đừng có định kiến , nhưng cũng xin đừng có phá vỡ mà tội lắm Người ơi ! Lỡ như vì chút công danh để làm mát mắt Cha mẹ, Anh Hòa. Tôi phải quên lời anh Sơn khen thưởng: “Em rất…trên …” Mà đã phải nén lòng để làm thỏa đáng gia đình , thỏa hiệp với hướng trai.
Tôi đã phải ra đi. Đi, là tự biết mình chuốt lấy chuyện bể dâu , thì ngậm mà nghe, để sau này hết còn lấy cớ chi mà trách đời dâu bể.
Phải đi, đi cho hợp lẽ dịch biến cuộc đời ‘‘Không công danh thà nát với cỏ cây’’, mặc ai thở than, với khúc ca Nam Bình mà Dương Thiệu Tước nhắn nhủ: ‘‘Đời vui chi trong sương gió, để Ai nhớ chăng Ai ? ’’ và ;
Mai đây, sau khi đã trôi tròn bổn phận “sáu mươi năm một phận người” , tấm hình hài còn hiện hữu ?….
Buông Bỏ!
Tôi sẽ sống Buông Bỏ đúng như một tâm hồn trời phú: Đạp hết, đánh tan cho nhào đổ , Ai giữ lại kẻ đó ngu, không ngu thì điên, như thế cuộc đời mới hiển hiện, hiển hiện như con quỷ nhe nanh giơ vuốt, nhưng vẫn mỹ miều khả ái phải không Em..?.( Thúy em)
Hãy nhìn Nguyễn Công Trứ kìa,
Ông là Ông, mà mình là mình .Nhưng Ông đang :
Tiêu dao nơi Hàn cốc thanh sơn
Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
Đồ thích chí chất đầy trong một túi
Mặc Ai hỏi mặc Ai không hỏi tới
Gẫm cuộc đời mà ngắm kẻ trọc thanh
Giờ này sĩ mới hoàn danh
Đạp vào xó, cái thứ danh phận bằng cấp, còn những tác phẩm khi đã dâng cho đời , thì cứ để mặc cho đời xử, một khi mà may mắn đã tới với mình ( Nói theo kiểu Vương Huy : Vậy là Lục bát trà , đã được hoàn tất một cách gập ghềnh và nhẹ nhàng . Tập thơ ném ra cát bụi. Vào tay ai lại là tùy duyên – LBT trang 6):
Đã đưa nhan sắc vào trong
Lo chi để phải trải lòng chờ gương (Lbt)
Để sống, cho đáng cái sống lãng tử phiêu bồng theo mây gió với núi sông Hương Ngự . Cực chẳng đã , nhỡ như vận hành sự sống có lỡ phai tàn một thời liệt oanh, tôi vẫn phải về để lượm cho bằng được, những chiếc lá cuối cùng, dù đã rơi rụng giữa thu xưa
Chỉ một sát na mộng muôn trùng hoang phế
Chợt ấm lòng với tiếng Dạ tiếng Thưa
Nghe rưng rưng thương tiếc mấy cho vừa
Gom nhặt hết hư thừa còn sót lại..
Dạ có chi mô….(Huế và EM)
Thi ca là một ân sủng – chỉ có con người mới nhận được sủng ân đó. Và nếu như tâm hồn có còn được chút hơi hám ,lãng đãng nơi nghệ thuật thi ca. Với giữa giòng đời vạn biến này, tôi vẫn cố về để cùng Ai tô tạo và gìn giữ chút nét Huế xưa
Huế thầm lặng, nguyên lành và non tơ, là một thứ gì đó rất mong manh dễ vỡ
Nên tôi chưa giám viết về Huế, vì một khi đã viết, là viết cho đáng, trong lúc khả năng và nhận thức còn giới hạn . Lỡ dài tay đễ làm uổng phí thời gian của thế nhân ,làm đau những cây rừng nằm xuống, không khéo lại xả rác vào tai tha nhân, những điệp khúc tưởng chừng như nhàm chán về nỗi đau thận phận ( /khổ đau - đau khổ giao đền ../ ) ,Vẫn biết đời cũng chỉ là cuộc chơi cho vui, nhưng đừng để phải vui là vui gượng kẻo mà …Huế đối với tôi muôn đời mãi mãi là người tình son trẻ lúc nào cũng đang và :
Tỏa khuê các lung linh ngàn trói buột
Một lần thơm lịm suốt cõi trăm năm
Em làTrăng ? Là Nguyệt ? Hay là Hằng ?
Em là THƠ của TÌNH YÊU KHÁT VỌNG
Nàng Thơ của tôi ơi !
Tôi không viết cho Em cái thứ tình yêu thân phận ( một đề tài miên viễn say sưa) vết loét quên đi cho nó híp miệng sắp dâm da non, nỗi đau người thân bạn bè tâm sự đã quá thực tế , lại còn không vần không điệu, hơn nữa rót vào tai không đúng lúc thành ra như bị tra tấn ‘ khổ hoài nói mãi’ , nỗi đau nghe phải có vần có điệu vỗ về mới tự sướng , đang đâm da non lại gải cho đã để cứ vòng vo mãi vướng ngỏ cụt , lùng bùng không lối thoát trong nghiệp chướng , sẽ phí và dang dở cả một phận người:
Sẵn tình há dễ thỏa thuê
Lắm tài mấy kẻ đề huề dọc ngang (Ng th Tình sử)
Tôi sẽ viết cho Em những trường ca vượt thân phận, thứ tình ca hạnh phúc hồn nhiên siêu vượt lên trên những đau đớn của kiếp người (le mal de vie ) và đời sẽ giảm trầm luân một khi con người bớt đa mang nhiều điều tục lụy
Và lúc đó Em sẽ hiểu rõ hơn về :
NGHĨA ĐOẠN TRƯỜNG
…..Cuộc đời vốn hữu hạn
Có chi phải ngậm ngùi…..
…..Sau cơn mưa trời sẽ tạnh
Sáng sủa hơn trước những vụn vặt rối ren
Nên , đoạn trường chưa hẵn :
Lắm tài tình – không được thỏa thuê trọn vẹn ?
Mà nghĩa là hổ thẹn :
Bao ngã chuốt tự xô
Thế gian đủ sắc màu điểm tô
Qua những cặp kính màu cứ mãi ngây ngô ?
Hay Em vờ không biết :
Trong chớm nở - đã nhú mầm ly biệt
Nơi tin yêu – đã gợn chút sóng nghi ngờ
Ngay nụ cười – là thứ nước mắt thô
Cuộc đời là thế :
Đam mê – Chiếm đoạt – rồi Chê chán
Dù nhìn đời dưới những cặp kính màu trong sáng
Vẫn rơi vào hữu hạn vô thường
Tình yêu là khói sương
Lấy đâu ra trọn vẹn
Ngay ghế đá công viên này !
Chúng mình thường hò hẹn
Cũng là nơi hẹn hò bao đôi lứa đã chia xa
Mai đây đến lượt chúng ta
Như bao nỗi đời mãi nhạt mờ nơi cõi tối
Để ngàn ngàn năm trước dẫn lối vạn kỷ sau
Sóng triều nối tiếp xô nhau
Những giọt lệ đau buồn bã
Vơi đầy – đầy vơi nơi bể cả
Hòa làm một
Lại trở về gột sạch bao vết loét chúng sinh
Trong đó có cả chúng mình
Theo giòng xoáy lênh đênh về cõi chết
Mai kia , những đôi tình nhân ngồi đây
Nào Ai biết
Chúng mình từng có mặt nơi nầy
Đã cháy lòng , đong đầy “ một thời để yêu để chết “
Thời gian vô tình xóa sạch bao dấu vết
Như chưa một lần chúng mình từng sinh ra
Như đã xóa hết những kẻ ngồi trước ta
Với bao cảm cảnh chia xa ,ngoãnh tiếc bờ hò hẹn
Khắc khoải , vò xé nỗi đau về niềm trọn vẹn
Trước khi về với sương khói ảo hư ……..
Một khi đã mơ ước để viết lên một trường ca, là phải chịu hy sinh ghê gớm, đừng nói chi chuyện ăn chay nằm đất , nói chi việc ngậm miệng mà bọc kín nỗi đau, đừng có mà than vãn với Ai , đợi chờ cho đến ngày bung mủ , phải sống thật đẹp như chưa từng được sống đẹp ,để mai sau nhỡ không còn nhau , mộng đời đỡ đau bên mồ lạnh . Cần mẫn tưới ‘‘cây đời’’ cho đơm bông kết trái , vê tròn cái chí tiến thủ, đạo đức phải như một nhà tu đúng nghĩa , và hồn nhiên như con gà mái đến kỳ buộc lòng nhảy ổ ; rồi phọt ra thơ
Dù muộn màng vẫn hơn , dù hai mảnh đời , hai thân phân và đã là hai bố cục khéo kết nhau nơi hội ngộ tương phùng :
Em với Ta từng tang thương dâu bể
Tôi người đi- Em kẻ ở lượm duyên lành
Ta gặp nhau lòng bén chút rất xanh
Ôi châu ngọc ! Mong manh hoàng hôn xám
(HUẾ và EM)
Ai ? Có đến Huế, đừng đến khi trường Đồng Khánh đóng cửa, tà áo thôi bay và linh hồn của Huế đã mất
Ai muốn khoe Huế, Đẹp lãng mạn và thơ mộng vô cùng! Thì cứ khoe đi !.
Khoe :
Cầu Trường tiền chiều nay sao gió lộng
Để cánh bướm vàng cứ mãi quấn chân anh
Nhìn Trường Sơn e ấp giống trường thành
Dùng dằng mãi gió chi mà lạ rứa !….
Nhìn những đôi tình nhân , Quốc học Đồng Khánh, nơi công viên, trên con đường sâu hun hút, lối hẹn hò giữa đôi bờ hư thực
Để nhìn :
Suối tóc huyền thả xuống đời
Bồng bềnh theo sóng nhạc
Vờn như mây mùa thu
Ngàn năm bạt ngàn trôi mãi
Trôi lên đôi bờ thon
Tôi bơi hoài vô tận
Lộng gió sóng lênh đênh
………… ( Em hãy nói đi Em)
Khoe sao cho sướng cái bụng mình ? Nói làm sao cho lột hết được cái ý của Huế ?
Nơi cái đỏng đảnh
Hay chỉ cần chọn đúng tầm đi về một ngày hai buổi : Vô học và tan trường, đứng ngay trên đường Lê Lợi đoạn Trường Tiền Quốc Học (cô cậu nào cũng chỉ cần một câu hiệu nghiệm: Mạ ơi! Tại con học bù giờ)
Nhìn những cánh trắng qua cầu gió lộng , để hòa điệu cùng Đoàn Chuẩn mà gởi gió cho mây ngàn bay được, sống cùng với Huế những ngày lãng đãng phiêu bồng
Bên vĩa hè lặng thầm mà nghe mòn tiếng guốc gợi nối âm xưa
Mà ngó cái nón duyên nghiêng
Hồn Ai khéo trượt - bên triền rơi thơ
Mà Nghễ ;
Cái dáng đi nền nã nhẹ nhàng hòa ái, không những chỉ để xô nghiêng anh hùng, nhưng nếu cần, cũng giám xô ngã những tượng đài phong kiến lý luân
Cái dáng chờ, mà nhớ cái điệu đứng Trịnh Công Sơn ‘‘ như gọi mưa vào hạ’’, để gọi Em, những bốn mùa
Cái lúng liếng , cái má đào làm cho nụ cười Em kéo thêm dài cuộc vui, cho rộng lòng mơ ước:
Khép nép - thẹn thùng - câm nín
Nở nụ tình –Em lấp kín cả hoàng hôn
Như sợ đau nền đất – khẽ bước chân
Em xô dạt – bến hoang cồn
Nghiêng dáng đợi
Nghe rừng khô –cựa mình thay áo mới
Trắng toàn Trắng, cả một con đường Áo Trắng, nhất là Ai đó qua cầu gió bay ,
Không phải bất cứ người con gái Huế nào cũng có cái rất Huế , nên mục đích trường Đồng Khánh cố tạo cho nữ sinh mình có , và cố giữ cái gì Rất Huế , mới mang được cái Hồn trong chiếc áo dài Việt Nam
Xin được nhắc lại lần nữa :
Là đừng! Các Bạn đừng đến với Huế khi trường Đồng Khánh đóng cửa , tà áo thôi bay, và linh hồn Huế đã mất,
Và cũng thật công phu lắm trong cái duyên và phận mới bất chợt, tìm được một phiên bản thiên thu:
Có phải Em về ?
Hay mơ chăng !
Xa xa
Trắng bướm nắng lụa hồng
Gió mây ve vãn – lùa tung cánh
Đôi làn áo lượn – trong mắt trong
Theo gió Em về - “ Đó ” phải không ?
Mây nâng
Xô dạt cả trời hồng
Lẽ nào ?
Khéo gói mây trong áo
Rồi đem thả gió –thật đó chăng ?
Ừ phải , đêm qua ngắm nghe trăng
Chọn Ai ?
Rất Huế ! - nơi cung hằng
Đoan trang
Khéo gói Hồn trong áo
Dịu dàng – thầm lặng nét Đông phương
…….. ( Chọn Ai ! Rất Huế mang hồn áo)
Và chính tôi ngày hai buổi cần mẫn như thế , nhất là sắp hè về , ve kêu báo hiệu và thúc vội lượm cái thứ sắc phượng tuổi hồng .

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

VÌ TUI LÀ DÂN HUẾ - Hoàng Uy Di , C . H. S . Quốc Học

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 4:40 pm

VÌ TUI LÀ DÂN HUẾ
By Hoàng Uy Di , C . H. S . Quốc Học
Tui yêu Huế bởi Tui là dân Huế ,
Mạ cưu mang Tui 9 tháng 10 ngày .
Huế cưu mang Tui mấy chục năm nay ,
Nên Tui có 2 nơi chôn nhau cắt rún .

Một là Làng Nguyệt-Biều mưa lún-phún ,
Hai là nơi Quốc-Học phượng bay đầy .
Kế bên trường Đồng-Khánh nắng nghiêng mây ,
Cả Phố Huế đón chào Tui khôn lớn .

Tui lớn lên Huế cho Tui bú mớm ,
Dạy cho Tui tình nghĩa trả ơn đền .
Dạy cho Tui đừng ganh ghét , oán hờn ,
Mà dạy tíếng Dạ Vâng ngày mới lớn .

Huế dạy Tui đừng quá lo đùa giỡn ,
Mà chuyên cần học tập để ngày mai .
Và trở nên người hữu-dụng thành tài ,
Lời giáo huấn suốt đời Tui ghi nhớ .

Mạ dạy Tui phải nhớ ơn Tiên Tổ ,
Kính Mạ Cha và nhường nhịn Anh Em .
Lo chu toàn hiếu đạo phải làm nên ,
Đừng xao-lãng việc trau-dồi kinh sử .

Giờ Tui xin chỉ dâng tròn 2 chữ ,
CẢM ƠN người , CẢM ƠN Huế cuả Tui .
Dù bây giờ Tui ở quá xa xôi ,
Không trở lại để thăm làng , thăm Huế .

Thiệt Tui là một đứa con quá tệ ,
Những lời xưa Huế , Mạ dạy quên rồi .
Để đêm về chỉ có nước mắt rơi .
Xin Huế , Mạ thứ-tha cho con với ...

Hoàng-Uy-Di
Dallas 01032017

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Một số bài thơ về ẩm thực ( gastronomy ) của Trương Văn Hải

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 4:45 pm

Một số bài thơ về ẩm thực ( gastronomy ) của Trương Văn Hải
HUẾ CHAY
Bánh này món Huế thật hay
Bột lọc ngon - hạt gạo xay nhuyễn mềm
Đậu xanh , mộc nhĩ trộn thêm
Tiêu , hành , dầu lạc tinh tuyền vị hương
Lá dong , lá chuối xanh rờn
Hấp lên nóng hổi mùi thơm ngạt ngào
Lột ra óng ả làm sao
Cắn một miếng thấy dạt dào tình quê
MỲ QUẢNG
Sợi mỳ trắng nõn , bánh đa giòn
Đầm đậm nước dùng đủ ngọt ngon
Tôm , cá , bò , gà um thấm thía
Cải con , rau diếp , ngắt tươi non
Ớt xanh , chanh , giấm thêm mùi vị
Đậu phụng , hành , thơm đủ vẹn tròn
Còn nóng , trộn đều rồi thưởng thức
Ngất ngây , thực khách đã trong lòng
CHÁO GẠO
Món quà sáng thơm ngon bổ rẻ
Ăn vào tăng sức khỏe nhẹ nhàng
Phập phồng bát cháo nóng ran
Đậm đà cá bống óng vàng , ngọt ,cay
Đầy tiêu ớt , ngất ngây môi miệng
Rất mặn mà vị biển hương đồng
Người xa xứ vẫn chờ trông
Ngày về quê mẹ thỏa lòng nhớ nhung
TRÊ - MÔN
Kẹp tre xanh nướng thơm lừng
Đĩa dưa môn chén mắm gừng xuýt xoa
Trê vàng ươm khói lòa xòa
Lấy tiền mua rượu làm quà cho anh
DƯA HÀNH
Bánh tét chiên với dưa hành
Miếng vàng nhân mỡ đậu xanh phô bày
Củ trắng ngần vị hơi cay
Nhẹ lòng thơm miệng đủ đầy âm dương
Thức ngon ngày Tết lạ thường
Đi đâu cũng nhớ cũng thương món nầy
TRÁI THƠM
Trái chín già nước ngọt ngon
Trái non làm mắm ăn chon * như dừa
Mùa hè đang buổi ban trưa
Ngâm đường ướp đá cho vừa khát khao
Nấu tô canh , trộn dĩa xào
Với bò gân , nạm thanh tao dễ nhìn
Khéo tay - tỉa gọt thêm xinh
Quả thơm - khóm - dứa bạn mình nhớ cho
* giòn

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

THƠ THƯ SẮC , C . H . S . QUỐC HỌC K 61- 64

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 4:57 pm


THƠ  THƯ SẮC  , C . H . S . QUỐC HỌC K 61- 64
TRƯỜNG ANH TRƯỜNG EM

Trường em bên nớ
Trường anh bên ni
Con đường cách khoảng
Một lối tình si

Khoảnh trời xanh nhỏ
Ôm trọn đôi nhà
Quốc Học –Đồng Khánh
Đượm tình em - ta

Một thoáng mơ qua
Ai gần ai xa
Aó dài áo ngắn
Tóc tơ lụa là

Vở sách một thời
Vang vọng bước chân
Vĩa hè in dấu
Thương quá bao lần

Thềm hoa cỏ biếc
Chẳng thấy nai xưa
Nai vàng lặng tiếng
Khuất nẻo chiều mưa

Trường em vẫn đó
Trường anh vẫn đây
Đồng Khánh – Quốc Học
Kỷ niệm vơi đầy

Bao lần lạc lối
Hai cổng chung đường
Một thời son trẻ
Mãi hoài vấn vương

Đổi trắng tóc xanh
Thôi thế cũng đành
Xa rồi nhớ lắm
Trường em- trường anh...
THƯ SĂC

TƯỞNG NHỚ  

(Nhớ bạn bè Quốc Học xưa vẫn còn và bằng hữu cũ  đã về miền miên viễn ...)

Hãy chước cho ta bình rượu đầy
Hởi cô quán nhỏ má hây hây
Ngày mai xứ lạ ta tìm thú
Trăm chén vơi đầy rượu có say

Rượu say nào đâu ta có say
Mình ta vẫn tỉnh ở phương này
Quặn từng khúc ruột - cười thương nhớ
Mấy đứa qua rồi - đã hụt tay

Mấy đứa qua rồi - đã hụt tay
Sao ta cứ mãi vẫn thế này
Quẩn quanh - quanh quẩn cùng ai nhỉ
Lặng lẽ qua đi hết tháng ngày

Bạn bè còn lại đếm đầu tay
Thằng nơi viễn xứ có cơ may
Cuộc đời thay đổi - đời thay mới
Xứ lạ quê người có được say

Thằng nữa vào Nam đã bao ngày
Khó khi gặp mặt để lại say
Khoảng cách chỉ còn là kỷ niệm
Làm sao quên được hết đắng cay

Thời gian như gió thoảng mây bay
Bao giờ biết lại gặp nhau đây
Mà vui một trận mà nghiêng ngửa
Cho trời cho đất phải lăn quay

Nào chước cho ta thêm rượu đầy
Nâng cốc ta uống cả hôm nay
Hôm qua - và cả mai kia nữa
Để được bềnh bồng - để được bay

Rượu say nào đâu ta có say
Bọn mình vẫn tỉnh ở phương này
Quặn từng khúc ruột mà tưởng nhớ
Bao đứa qua rồi - đã hụt tay...

Thư Sắc.

HỘI  NGỘ
(Cựu học sinh trường Quốc Học niên khóa 1961- 1964)

Mấy mươi năm rời xa Quốc Học
Thầy xưa bạn cũ toả ngàn nơi
Giờ hôm nay về đây tụ hội
Lòng vui xiết kể chẳng nói lời

Mặt nhận mặt một thời cách biệt
Tay nắm tay siết chặt tình thân
Tình bằng hữu thuở đời son trẻ
Chung trường - cùng lớp nhớ vô ngần

Những đóa hoa tươi kính dâng Thầy
Niềm thương nổi nhớ vấn vương đầy
Bài giảng ngày nào còn vẳng tiếng
Âm trầm vang vọng cả trời mây

Lao xao lắm chuyện thời thơ ấy
Như buổi thanh xuân - tuổi học trò
Không vướng víu bụi trần thế tục
Thảnh thơi sách vở với hẹn hò

Bao năm vào cuộc trắng tóc mây
Thầy xưa bạn cũ lại sum vầy
Một chút men nồng mừng tao ngộ
Thân tình đượm thắm mãi chiều nay...
Thư Sắc

LẦN GẶP MẶT  
(Nhớ bạn bè Quốc Học xưa cùng tháng năm sách vở )

Ta gặp nhau mừng vui kỷ niệm
Qua chặng đường mưa gió biển khơi
Mặt nhận mặt một thời cách biệt
Từ bốn phương về lại cười tươi

Qua rồi tuổi trẻ cùng năm tháng
Giờ hôm nay tóc bạc màu mây
Thương nhớ mãi vở sách ngày đó
Bên nhau chừ mấy đứa sum vầy

Nay gặp nhau đây mà nhớ lại
Cổng trường xưa thầy cũ xa rồi
Bài chưa thuộc vẫn còn lo nghĩ
Nỗi vấn vương giờ mãi không nguôi

Đã mấy mươi năm rồi đấy nhỉ
Tuổi học trò trong trắng thơ ngây
Không trở trăn bụi trần thế tục
Cứ nhẹ nhàng như lá trên cây

Gặp nhau đây vui mãi hôm nay
Khoảng cách xa vắng đã bao ngày
Trường lớp bây giờ còn kỷ niệm
Bạn bè thân hữu lại nắm tay

Đẹp biết bao - xưng tao gọi mày
Như thời xưa cũ  lẫn hôm nay
Chan hoà thân ái sao quên được
Ước mong mãi thế cõi đời này...
Thư Sắc

VỀ VỚI QUỐC HỌC
( Nhớ bạn bè Q.H 61-64.)

Những cánh chim muôn phương
Quay về dưới mái Trường
Tìm cội nguồn-tổ ấm
Ôi Quốc Học thân thương

Một trăm hai mươi năm
Nhớ ngày thành lập Trường
Thầy trò vui đoàn tụ
Hội ngộ-lòng vấn vương

Mặt nhận mặt hân hoan
Tay nắm tay reo vang
Ôi Thầy xưa –bạn cũ
Bao năm tháng lìa đàn

Giờ đây thật rộn ràng
Ngày đã vào – thu sang
Và Huế Đô dịu vợi
Rộng tay đón con “đàn”

Bao thương nhớ vơi đầy
Tràn ngập cả trời mây
Ôi thân thương Quốc Học
Xa cách lại sum vầy ...

Tháng 10/2016.

VẪN  NHỚ  MÃI  
(nhớ bạn bè Quốc Học xưa )

Thương nhớ lắm bạn bè xưa cũ
Tuổi hoa niên hào nhoáng một thời
Giờ bạc tóc - phương trời cách biệt
Thời gian dài mỗi đứa một nơi
Tâm tư khắc khoải đến muôn đời
Khó khi về lại tuổi đôi mươi
Gặp nhau một thoáng rồi ly biệt
Bằng hữu chia xa mãi ngậm ngùi...

Thư Sắc.



Được sửa bởi Admin ngày Fri Mar 10, 2017 11:10 am; sửa lần 1.

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

XƯỜNG HỌA ĐƯỜNG LUẬT - KÊ MINH- Trương Văn Hải xướng

Bài gửi  Admin on Thu Mar 02, 2017 5:13 pm

XƯỚNG HỌA ĐƯỜNG LUẬT

KÊ MINH *
Trương Văn Hải​ xướng

Lặng nghe gà gáy mãn đêm trường
Nhắc nhở vầng ô lộng cõi dương
Dõng dạc hồi chuông người tỉnh giấc
Thâm trầm giọng khánh cảnh mờ sương
Hồn thiêng tổ quốc ngàn xưa rạng
Nghĩa sáng làng quê vạn cổ tường
Đệ nhất cầm gia bằng hữu hảo
Tấm lòng dân Việt mãi hoài thương
* gà gáy

TIẾNG RAO ĐÊM
Rao khuya quặn thắt giữa canh trường
Khắc khoải mơ cầm ánh thái dương
Thờ thẫn thân chìm đau phiến nguyệt
Bơ phờ giọng hắt lạnh màn sương
Mong em hiện tại thôi u ám
Ước chị tương lai sẽ cát tường
Tiếng vạc bay qua còn thổn thức
Sao người không gợn chút niềm thương
NHƯ THỊ - LÊ ĐĂNG MÀNH

Bài họa:ĐUỔI KHỈ ĐÓN GÀ.
Trằn trọc suy tư,mấy canh trường.
Nghe gà đã gáy,gọi vầng dương.
Đang say giấc điệp,trời chưa sáng.
Chợt tỉnh mơ nồng,đất ngậm sương.
Khỉ đáo rừng xanh,lo tất tật.
Kê về,cửa gác sạch tinh tường.
Gằn kề ngày tết,luôn trông ngóng.
Năm mới,xuân sang nắng có thương.
11/1/17 ĐẶNG VĂN TRAI

GIỤC SÁNG

Gà gáy con ơn dậy đến trường
Mặt trời ló dạng buổi xuân dương
Chuông ngân tỉnh thức đường mờ ảo
Mõ gióng xóa nhòa nẻo khói sương
Lịch sử nghìn năm nên nhớ rõ
Giang sơn muôn dặm phải am tường
Ngoại xâm lấn lướt ra tay chặn
Một mẹ - đồng bào hãy quý thương

NGUYỆT ĐÌNH ,
HUẾ , 13/01/2017

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

MẮT NAI BUỒN -TRUYỆN NGẮN - Bạch Văn Minh , C. H. S . Quốc Học 12 C ( đã quá cố )

Bài gửi  Admin on Fri Mar 03, 2017 7:53 am

Ánh mắt đục buồn , mái tóc phủ bờ vai e ấp , với những chiều sương ngâm trắng giòng sông hình như bàng bạc mãi trong tôi . Khi mà Huế bắt đầu mùa thu đông , hiu hắt mưa dai dẳng .Sương mù như chút khói hương tưởng nhớ những mịt mùng xa cách . Ở đó với tháng năm rực rỡ hoa phượng đỏ , nhạc ve kêu râm vang hứa hẹn một mùa hè hoan ca , có sóng biển tươi cười trên cát , có hương lúa ngọt ngào bay dưới nắng vàng óng ả .
Nhưng để rồi , đó chỉ là mộng tưởng , tiếng kêu hớt hãi của những ngày chạy loạn xóa mất tất cả , cái ngày cuối cùng của tháng tư , thị xã trầm buồn trở mình tránh khỏi cơn nắng đỏ rực lửa khổ đau . Huế tháng năm như giấc mộng dữ quấn quýt , với máu hồng , tiếng nhã nhạc tiễn đưa , nước sông trôi lờ lững , những con đường quạnh hiu , dãy tường thành sen bơ vơ nở trắng , chỉ còn lũ chim ngơ ngác nhảy bay .
Trên đường quốc lộ , xe nối đuôi nhau hàng hàng lớp lớp , người đứng ngồi đầy rẩy đi qua các cái nhìn của những dãy nhà ven đường , đem theo nhung nhớ vương tan nơi từng đồi núi chập chùng , nước trong đầm vỗ rạt rào dưới chân đá bạc . Đi qua đèo quanh co , rừng cây xanh lổ chổ của dãy Trường Sơn , những ga nhỏ buồn hiu lặng lẽ đầy dấu đạn bom đổ nát , nhìn những con đường sắt lạc loài thẳng tắp , nghe đứa em gái hỏi nhỏ nó chạy đến đâu . Có lẽ chẳng bao giờ có xe lửa , em biết không ? Ga đâu mà đến , cầu đâu mà qua , quê hương mình mà mỗi lần đi là mang theo nỗi sợ hãi từng hốc đá , lùm cây . Ngày ấy tôi nhớ lại Huế bằng những lần chờ đợi cuối cùng dưới chân đèo Hải Vân , trông xuống dưới là là hàng dừa bao bãi cát trắng giữa sóng biển lăn tăn , ngó lên cây gập ghềnh mọc theo triền dốc , bỗng dưng tôi bắt gặp một ánh mắt buồn dịu dàng , trông ra biển . Gió phất phơ bay vài sợi tóc lòa xòa , trên bờ vai chiếc áo dài trắng hiền lành . Tôi cũng nhìn ra xa , có một vài cánh buồm bình thản ra khơi và những con chim chim biển bay là đà , rồi quay lại nhìn đôi mắt dịu đem theo cả vùng quê hương đó , để thấy chút bâng khuâng buông tỏa . Khi xe chạy lên đèo , sương trắng ngậm quanh , tôi không còn thấy ánh mắt buồn đó nữa và cũng để sửa soạn cho những ngày sắp đến nơi thành phố ốn ào tôi không có gì để nhớ .
Thành phố nơi tôi đến , có cái nóng hun lửa , người đông ơi là đông , các con đường ngập tràn tiếng động , khói xăng thật là khó chịu , làm cho tôi càng thêm nhớ Huế . Có những chiều nhìn phi cơ trở về , gù gù lưng , hạ cánh xuống phi trường tôi thêm nhớ , thấy như các con chim cu xòe cánh bay về tổ trên hàng dừa cao trước trường Đồng Khánh . Có lẽ tôi về lại Huế .
Hoa phượng đỏ , vẫn còn nở với lũ ve chung tình hạnh ngộ , lúc mà tôi trở lại chỉ có cái im lặng bao phủ . Ở Huế giòng sông Hương vẫn lặng lẽ trôi theo nước trong , hai chiếc cầu bắc qua sông thỉnh thoảng có người qua lại trên nhịp vài lững thững nhớ nhung . Huế vắng những chiều bãi học nơi đường Lê Lợi , áo trắng tung bay giữa hàng cây xanh đổ bóng tới Trường tiền , ngược lên Nam giao thở chút không khí núi rừng trên con dốc cao thăm thẳm hay đi thẳng về theo các khu vườn xanh um có trái nhãn lồng ngọt mát nơi Vỹ dạ và còn bốn cửa thành nội , buồn xưa quằn quại hồn vua chúa , tìm ngoài hào thành hương sen thoang thoảng , vào Đại nội trông nỗi đìu hiu vắng ngắt trên lầu Ngũ phụng , điện Thái hòa , lối cửa Ngọ môn đời đời loang lổ , ngập đầy bông sứ trắng buồn buồn .
Những buổi tối , bóng đêm ngập lặng , vẫn còn trăng với sao lấp lánh tình tự muôn đời . Tôi đã đi hết những con đường của phố ngày trở lại , rồi lần mò ra khỏi tìm về làng , cũng không biết làm gì , con đường lót đá đầy những ổ gà sâu nhìn ra hai bên lúa chín vàng tươi , từng đàn chim ríu rít bay lượn , nhủ thầm mùa gặt , để lâng lâng nhớ lại những bài học về quê hương trong lớp . Tôi thấy thương lạ lùng con sông nhỏ chảy lờ đờ với nhiều đám bèo trôi , có chiếc ghe nhỏ bé rẽ theo , thèm miếng khoai nướng vùi trong lửa bùi bùi , nhớ bầy chim chào mào đỏ liu tiu hót , chiếc ná thun nhắc nhở thủa ấu thời nhảy nhót . Cái thủa mà quê hương lao xao cánh cò trắng soi mình bên bờ ruộng , lúa mạ xạc xào theo cơn gió nhẹ , tôi trẻ nhỏ nhìn trái bóng xẹp lăn vào hai thân cây làm " gôn " từ bàn chân mình , trên cánh đồng gặt xong trơ gốc rạ với nỗi vui sướng tràn trề hoặc con diều no gió vút lên cao đuổi theo cánh chim chiều hoặc bậm môi giựt sợi câu nhỏ có chú cá rô kền nhảy nhụa , tiếng cười trong trẻo lẫn trong tiếng nô đùa vang dội của con gái con trai giữa sân trường ra chơi tuổi nhỏ ngày xưa . Để lớn lên một chút , biết nhìn qua cửa sổ của trường bên cạnh mà chỉ thấy hàng cây phượng rụng bông là dễ thương , biết đó là cầu Trường tiền sáu vài mười hai nhịp , trên bến Phu văn lâu có vị vua đợi chờ con nước dậy , biết để rồi quên , thế thôi chứ không nhắc nhở gì hết trong lòng .
Tia mắt buồn phiền trách móc của mẹ tôi đã làm tôi đi khỏi Huế lần nữa , bà đã giận dữ lo sợ khi nghe tôi đi ẩu về Huế . Ở trong đó ai ai cũng rầu rầu khi nghe tin gì ngoài này . Và khi đứng trước mặt mẹ , tôi nghe nói mai mốt cho vào Đà lạt . Đà lạt thành phố mù sương đồi núi , nỗi hân hoan nhẹ trải lòng tôi . Từ nay sẽ không còn đứng ở Đà nẵng mà trông ra Huế nữa . Tôi giã từ Đà nẵng nơi không có mưa dù là mưa giông , bãi biển thì như chỗ tù đày , rác rưởi trôi dập dềnh mang màu sắc đục ngầu xót xa , chẳng một tiếng ve vang . Mùa hè ở đây như bãi sa mạc mênh mông cát nóng .
*****************************************************************************
Qua khung cửa nhỏ mờ hơi sương , tôi nhìn xuống lần cuối thành phố nhấp nhô nhà cửa . Phi cơ đảo vòng ra biển rồi lên cao , đến một lúc mây trắng bay nhớn nhác , mây nõn nà ca múa . Tôi nhắm mắt muốn ngủ giấc dài ...
Bánh phi cơ chạm êm ái xuống sân , chạy theo đà bay rồi dừng lại , những người đợi lóng ngóng nhìn lên chiếc thang trắng , tôi bước xuống , trời lành lạnh , tôi leo lên xe từ từ về thành phố , qua những thung lũng thấp đầy sương mù quyện trên các cành thông . Buổi trưa ngắn lặng , khi xe vào phố , cơn lạnh hình như tràn ngập tôi , cả cái ngẩn ngơ nữa . Tôi xa lạ nhìn chung quanh , tìm con đường đến nhà , tôi ngó tấm bảng đường đi dọc hàng cây , đằng trước có một đứa bé tay xách cặp , có lẽ đi học về , tôi hỏi con đường muốn đến , đứa bé vui vẻ trả lời , để bước những bước chân bớt lạnh xuống đường , và đó cũng là người bạn đầu tiên của thành phố dốc sương mù .

********************************************************************
Ngôi nhà có hàng rào găng nở vàng bao quanh , vườn cây thấp , nhiều cụm hồng vướng vất bên dãy cúc tím mọc dài . Khung cửa kính mờ theo buổi chiều mới mẽ , tôi nhìn con đường với hai hàng thông xanh êm ả , bỗng tiếng chuông reo vang ngoài cổng , rồi một người con gái , khi thấy tôi , bước chân khựng lại trên thềm ngập ngừng hỏi :
- Có Phương Anh ở nhà không ạ ?
Tôi gật đầu :
- Dạ có , chị để em kêu .
Tôi trở vào trong tìm chị Phương Anh đang hong những sợi tóc ướt mướt phía sau vườn , chị mỉm cười nhảy lên tam cấp , lúc sau tiếng cười nói vọng ra , tôi vào phòng mặc thêm chiếc áo lạnh , đi ra đường bước lần về phía phố chợ , bâng quơ đếm từng dốc cao lên xuống và khi dừng chân trước bậc cấp lại không muốn xuống chút nào , chiều hiu hắt sương , các con đường sẫm lại , gió xua các cọng thông úa rơi rớt . Tôi muốn đi vòng ra phía hồ tìm đến đồi thông xa , nhưng bầu trời xám thấp nhắc sắp đêm về . Tôi lang thang cho hết buổi chiều , khi đi ngang ngôi trường trắng nằm trên đồi , tôi thấy dưới đất có có một bảng tên nằm úp ngang ngọn lá , tôi lượm lên , nó dệt chỉ đỏ bốn chữ " Trung Học Nguyễn Hoàng " ở dưới Nguyễn thị Quỳnh Chi thêu xanh , lúc đó tiếng chuông bãi học reo lên nhẹ nhàng , tôi bước nhanh , ở trước bóng một người con gái với chiếc áo len màu lục sẫm , cổ áo trắng ló ra ngoài , tay dắt đứa bé gái nhỏ miệng nhai kẹo nhí nhảnh cười . Tôi sang đường kịp nhìn mái tóc dài ngang vai bay lất phất lộ khuôn mặt với cặp mắt buồn dịu dàng , tôi quay đi chân đụng vào cây hổ ngươi nở hoa hồng tròn trịa , nhớ về chút ngày cũ - đôi mắt buồn suốt quãng đèo Hải Vân cao nhìn cánh buồm và bầy chim ngoài biển . Nỗi tình cờ tôi gặp lại ở đây để biết tên ; càng tình cờ hơn Quỳnh Chi bối rối khi thấy tay tôi cầm cái bảng tên nhỏ Chi đã làm rớt khi lật từng trang sách . Những đứa học trò con gái măc đủ màu áo lạnh quay lại nhìn khi Chi rẽ vào con phố , qua bao nhiêu hàng cây lá thả từng nỗi bâng khuâng lạ lùng .
Từng nỗi nhớ mong hòa tan trên cành hoa ngọn cọn , những chiều đi học mùa đông ở Huế . Ánh mắt cũ và cái bảng tên cho tôi thấy rõ dãy lầu cao màu hồng , hàng cây mọc theo lối đi đến dãy lớp sát trường Đồng Khánh mà giờ ra chơi cả vùng thương yêu hiển hiện , trường Quốc Học ấp ủ tôi với suốt sáu năm liền . Các buổi chiều mịt mùng mưa ngồi trong lớp nhìn ra những tàn phượng rụng lá bé nhỏ nhắc nhở mùa đông âm thầm buồn . Mùa đông ở Huế là biết bao điều thương nhớ , đi trên cầu ngó xuống sông mưa đan kín dãy đò ven bờ , rũ rượi hàng cây . Huế mưa trông như con gái khóc , cái khóc nức nở nhất một đời . Huế thu đông như màu lông xám tre chim sẻ đậu u buồn trên cây muối ở bất cứ ngõ đường nào . Gió lạnh lùng thổi về từ bên kia Trường Sơn đem theo mùa áo ấm bay trên phố , sân trường .
Ở Đà Lạt , tôi thường ở nhà một mình , ngôi nhà vắng người nhất là buổi sáng , khi chị Phương Anh ôm cặp đi học , dì tôi đi chợ thì chỉ còn có tôi một mình . Như buổi sáng hôm nay , sương mờ kín , từng đám mỏng bay qua xóa mất bóng cây , hiên ngoài . Trời sáng gió lạnh , tôi ngồi đọc truyện ở trong phòng , thấy gió sương thổi nhau ngoài ô cửa kính ràn rụa nước . Lúc lật trang sách mới , tôi nghe tiếng chuông reo , cũng tiếng chuông giòn tan và bóng một người con gái ngoài cổng đã một lần tới đây . Sỏi trắng kêu lào xào dưới chân người bạn học của chị Phương Anh , nhưng lần này không dừng lại ở ngoài thềm mà bước vào trong , bây giờ đến phiên tôi bối rối trả lời chị . Tên chị là Tường Vân , học năm đầu ở Văn Khoa , bạn cùng lớp chị tôi , người dong dỏng cao , mái tóc cắt ngắn lòa xòa ra sau , mặt mang màu hồng của con gái Đà Lạt . Chị rủ tôi đi chơi , tôi cũng định đi nên gật đầu . Lúc đó người giúp việc không biết đi đâu đã về .
Chị Tường Vân với tôi ra đường khi sương bắt đầu tan bớt , đi hết những con đường trong phố , chị muốn ra hồ . Chúng tôi đi xuống ngõ đường nhỏ nhắn bao quanh hồ , giữa bờ lau và bãi cỏ xanh lúp xúp tận mé nước . Mặt hồ bình lặng , sương đã tan hết trong nước xanh , chỉ vướng víu ở đọt cây cao ven bờ với chút nắng vàng nhạt mong manh :
- Hưng mới đến Đà lạt lần đầu à ?
- Dạ , mà cũng lần đầu đi xa . Chị Tường Vân ngồi xuống tảng đá nhỏ , tay bứt ngọn cỏ xanh , hồ vẫn chưa có ai , rồi ngẩng đầu lên :
- Chị chưa lần nào rời đây cả . Mà Hưng thấy đây thế nào ?
Tôi đáp :
- Buồn quá , nhưng em thích .
- Thế Huế của Hưng ?
- Cũng buồn lắm .
Tiếng chị cười nhỏ :
- Huề nhé , mà đổi Huế cho chị đi !
Tôi ngồi xuống , lượm hòn sỏi ném ra hồ làm xao động đuổi vầng nước tan nhanh , rồi kể cho chị nghe cái phố Huế thân yêu có mùa mưa lụt dai dẳng . Cứ giữa tháng mười , một ngày nào đó , mưa bỗng to hơn mọi khi , gió trở mạnh , thổi rớt tất cả lá vàng , cành khô xuống đường , nước sông dâng cao bạc trắng từ trên nguồn cuồn cuộn chảy về , ở bờ sông người ta xúm xít cất rớ cá . Ngủ một đêm , sáng dậy là thấy nước ngập đầy sân , xấp xỉ lên nhà , rồi rủ nhau đi lội , nhìn những chiếc đò vào đậu tận đường phố và dưới cầu các thân gỗ mục trôi lênh đênh , háo hức ghe đi vớt tạo cái tươi vui giữa mùa buồn .
Đôi mắt chị mở lớn , môi mỉm cười khi tôi nói đến mùa hè hay những điệp khúc trong sân trường Quốc Học , Đồng Khánh . Có các con đường , phượng hồng kết chùm lẫn trong tàn lá xanh thỉnh thoảng rụng làm thành cái thảm đỏ chói . Với màu biển xanh ngắt , cánh thuyền buồm vào bãi , dưới khoang , cá to trắng bạc nằm đầy , phơi mình dưới ánh mặt trời chói chang . Chị cười giòn tươi khanh khách làm bầy sẻ sợ hãi bay vù lên cây lúc tôi kể trường tôi có dãy lớp sát trường bên cạnh , giờ ra chơi hay nghỉ một hai giờ là tụi bạn chịu khó ra đứng tìm ngoắc tay làm chi không biết nữa , chỉ thấy nhìn chăm chú vài tà áo trắng bay . Để có lần từ bên kia cửa sổ có bàn tay vẫy sang bên này , làm thằng bạn cười vui vẫy tay lại thì , từ đằng sau , một bàn tay xoắn vào tay nó bóp vỡ giấc mộng . Thầy giám thị với giọng the thé đừng từ sau bao giờ . Bọn tôi , đứa nhảy cửa sổ , đứa chun dưới gầm bàn , cắm đầu chạy . Bên kia , bọn con gái rủ nhau cười . Hôm sau nó ra văn phòng nộp tờ giấy có đủ trăm lần câu " Tôi không bao giờ đứng ở cửa sổ để ngoắc sang bên kia nữa " . Tôi kể một lúc lâu , cho đến khi trên mặt hồ có vài chiếc xe đạp nước trôi lừ đừ của người đi dạo sớm .
Gió thổi tung tóc Tường Vân , tôi giục chị nói về Đà lạt , thành phố cùa chị . Chị Tường Vân lắc đầu , không nói gì về Đà lạt cả . Ánh mắt chị hình như đang mơ đến cái gì :
- Hưng biết chị thích cái gì ở thành phố của chị không ? Chị thích hồ có những cặp thiên nga trắng dập dìu bơi và đồi thông , thung lũng có nhiều phấn thông bay vàng trong gió thôi .
Thiên nga , tôi biết chị là tiên nga của sân trường Văn Khoa . Ừ , thì mai mốt trong đáy mắt chị thiên nga mộng tưởng sẽ bay và chẳng con nào thèm đáp xuống hồ cho chị nhìn cả . Cơn nắng vàng óng ả hiếm muộn đã dấy lên ở buổi mai Đà lạt , chị Tường Vân đứng dậy kéo tôi rời hồ đến những rừng thông xa nhất mà tìm phấn thông bay của ngày tươi đẹp .
Đà lạt thật buồn bã lúc trời mưa , thứ mưa gàn giống Huế . Tôi đã sống trong buồn lạnh của mùa he , khi các trái thông khô rụng đầy dãy đồi để khong tìm được gì cả như lời chị Tường Vân . Chỉ thấy hoa Mimosa vàng rực mọc bên thác nước hay những bông hoa đủ màu mọc đây đó là sáng đẹp và nhất là buổi văn nghệ tàn niên học của trường Văn Khoa .
Trên sân khấu nhỏ nhắn , có chiếc màn nhung đỏ , để lặng yên nghe tiếng hát của chị Tường Vân vút cao , thấy mắt chị mơ màng tìm màu dã quỳ vàng nở trên bờ hồ Xuân Hương , nơi loài thiên nga đàng chờ chị về thiên đường nhỏ dại , cắp sách nhảy chân sáo đến trường . Ước mơ nhìn bầy bồ câu trắng bay khắp ngã , mỗi con sẽ đậu mỗi thành phố và hai co đáp xuống Huế , Đà lạt là hai con chim trắng đẹp nhất đàn , mỗi chiều đứng trên tàn phượng ở bờ sông Hương hay thông xanh ơi hồ Than thở mà vù vù kêu nhớ kêu thương . Nhưng khi tấm nhung đỏ mở lần thứ hai mới là bất ngờ thích thú cho tôi . Quỳnh Chi đứng đó với chiếc áo dài trắng yêu dấu thuở nào , cũng ánh mắt xa vời mộng tưởng chỉ tìm thấy ở loài nai nhỏ . Chi hát bài trường cũ réo rắt hương kỷ niệm :
- Bao tháng ngày xa vắng trôi , còn đây nếp trường xưa . Xa vắng càng thiết tha , mong bên mấy khung song thưa . Say ngắm từng gian lớp xinh , lòng xao xuyến tình thơ . Cây bàng xưa kia lá tốt xanh tươi , chạn lòng ai tiếc nhớ khó nguôi ...
Tiếng hát êm đềm dừng lại trên hàng cây kẽ lá , mắt nai long lanh buồn
trong suốt như thấy xanh màu phượng ở sân trường Nguyễn Hoàng , tiếng guốc gỗ vang vang trên hành lang lớp xinh . Quỳnh Chi ngậm ngùi cúi thấp , có lẽ trường của Chi thành trường cũ xa vời thật rồi và cả phố Quảng Trị nghẹn ngào của Chi nữa . Buổi sáng trời không sương , tôi nhuốm buồn - chắc là vì tiếng hát Quỳnh Chi , tiếng hát đó tôi chỉ muốn nghe thấy ở một rừng thông nào thật xa vắng với Quỳnh Chi như con nai sao vàng trắng , giương đôi mắt to đen , cất tiếng hát giữa chim muông , cỏ cây hoa lá và phấn thông rơi vàng bay trong gió mà thôi .
Khi tôi rời Đà lạt , mùa quì vàng đã tàn , trên cành anh đào hồng đỏ có chiếc hoa nở trài mùa và những giọt mưa bay đầu tiên rơi rớt . Giờ ở Huế đâng mưa , thành phố mà chị Tường Vân muốn đổi buồn da diết . Còn thành phố của Quỳnh Chi đã bằng phẳng , có thể nhìn tận biển , sông Thạch Hãn thảnh thơi trôi , ngôi trường cũ còn lại cái cổng hoang tàn . Chắc không bao giờ Quỳnh Chi trở về Quảng Trị .
Ơi mùa sương mù , hoa vàng nở với đôi mắt nai nhuốm sương buồn nơi rừng thông Đà lạt.
BẠCH VĂN MINH
11 C ( 1972 -1973 )


Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

NGÔI TRƯỜNG CẶP ĐÔI - Văn Công Toàn C . H . S . 1968 - 1975

Bài gửi  Admin on Sat Mar 04, 2017 7:21 am

NGÔI TRƯỜNG CẶP ĐÔI
Văn Công Toàn C . H . S . 1968 - 1975
(Kỷ niệm 120 năm Quốc Học
100 năm Đồng Khánh)
Quốc Học-Đồng Khánh cặp đôi
Không gian gắn kết,khoảng trời bình yên
Bên tê sắc tím dịu hiền
Bên ni màu trắng thư sinh-hai hàng...
Đẹp sao những buổi tan trường
Từng đàn bướm lượn rợp đường áo bay
Xa nhau thương nhớ bao ngày
Cặp đôi trường cũ đong đầy tình yêu !!!
Huế 1-3-2017

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC SỬ - Thầy Phan Thuận An

Bài gửi  Admin on Mon Mar 06, 2017 6:40 am

LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC SỬ
 Thầy Phan Thuận An

( Thay lời Ban Biên Soạn :
Trương Văn Hải :
-Kính thưa thầy  ,
Em  vừa đánh máy  lại bài viết của thầy  đăng trong
đặc san Xuân / Quý  Sửu 1973( bao gồm  những sửa chữa  của thầy ) . Thầy cho biết  , chúng em có thể  đăng bài này   lên
đặc san " Thuở Ban Đầu  Quốc Học " của chúng em  sắp ra
được không ạ  ?

Thầy Phan Thuận An :
- Hải thân mến,
Bài "Lợi ích của việc học sử" đã được viết cách đây gần nửa thế kỷ, nhưng đến nay đọc lại, thấy nó chẳng những không lỗi thời mà vẫn còn nguyên giá trị . Đó chính là cái mà ngày nay người ta thường gọi là "giá trị vững bền" (sustainable value).
Đây là một trong những bài viết tâm đắc của tác giả thời còn trai trẻ và ngay đến tận bây giờ.
Cám ơn Hải đã có con mắt tinh đời và biết lựa chọn một bài viết vẫn còn hữu ích cho thế hệ hôm nay.
Bài đã được sửa các lỗi chính tả, nay gửi lại trong file đính kèm để Hải sử dụng.
PTA
T . V . H . : Xin cám ơn Thầy . )


Mãi cho đến ngày nay, sử thường được quan niệm là một môn học phụ thuộc, nên nhiều người xem nhẹ. Nhưng ngay từ thế kỷ XIX, bên Tây phương, sử học đã trở thành một khoa học, nghĩa là ngành học có phương pháp và đối tượng để khảo cứu hẳn hoi. Trong các bộ môn khoa học xã hội như kinh tế học, chính trị học, xã hội, vân vân …, sử học đã được xếp ngang hàng. Sử học ngày càng được người ta chú trọng tới, đến nỗi có kẻ đã bảo rằng sử học là khoa nhập môn cho tất cả các bộ môn khoa học xã hội.
Thử đặt vấn đề tại sao người ta lại chú trọng đặc biệt tới môn học này như thế ? Phải chăng vì việc học sử đã đem lại nhiều lợi ích cho con người ?
Có nhiều ý kiến đã được phát biểu để biện minh sự kiện vừa nêu ra.
Vào thế kỷ XIX, một sử gia Đức là Ranke đã cho rằng sự nghiên cứu sử có mục đích là "làm cho thấy rõ các sự việc đã xẩy ra như thế nào" (wie es eigentlich gewensen), hoặc nói một cách khác, dựng lại quá khứ giống hệt như nó đã xẩy ra. Rõ ràng hơn, Michelet (Pháp) đã ghi nhận: Mục tiêu của sử học là "Hoàn sinh lại tất cả sự sống" (Résurrection de la vie intégrale). Ý tưởng này vẫn chưa xác đáng bằng ý kiến sau của một sử gia Anh, Collingwood: "Sử học là môn học làm "tái diễn" những kinh nghiệm của quá khứ".
Như vậy, học lịch sử là đi ngược thời gian về những sự kiện đã xẩy ra trong dĩ vãng, tìm hiểu nguyên nhân rồi hậu quả của mỗi sự kiện, để lấy kinh nghiệm đó làm một bài học mà người ta thường gọi là "bài học lịch sử".
Nếu dòng thời gian của vũ trụ được chia ra làm ba giai đoạn là quá khứ, hiện tại và tương lai, thì trong phạm vi sử học, chúng ta dùng quá khứ làm thành một tấm gương, mà khi soi vào, chúng ta có thể thấy rõ về chúng ta hơn trong hiện tại, và đôi khi có may mắn khám phá được hướng tiến của chúng ta trên con đường đi vào tương lai nữa. Một nhà sử học đã viết rằng:"Chính lịch sử cho chúng ta thấy điều kiện hưng vong của các triều đại, bước đường thịnh suy của các quốc gia, ở đây một đế quốc thành lập, ở đó một chế độ tan rã, tất cả xuất hiện rồi biến đi theo đà trôi xuôi của thời gian man mác, không phải bao giờ cũng theo một nhịp điệu nhất định, nhưng ở dưới điều kiện phần nhiều tương tự như nhau. Lịch sử là môn vạch lại trước mắt chúng ta những thành công và thất bại chung, nghĩa là cho chúng ta biết phạm vi trong đó sức lực con người có thể bành trướng qua các điều kiện nhân sự và thiên nhiên".
Nhìn vào dĩ vãng, chúng ta thấy mọi thứ vấn đề đã được tiền nhân giải quyết theo cách này hay cách khác. Cho nên, trong hiện tại, khi một vấn đề được đặt ra cho chúng ta, chúng ta có thể dự đoán được hậu quả của nó, nhờ nhìn vào những trường hợp tương tự đã xẩy ra trong quá khứ. Lịch sử là kinh nghiệm. Biết được nhiều về lịch sử thì thâu thập được càng nhiều kinh nghiệm sống của người xưa .
Ngoài những kinh nghiệm chung có tính cách xã hội ấy ra, chúng ta còn có được nhiều kinh nghiệm cá nhân nữa. Khi đọc đến những hành động phi thường và chiến công hiển hách của các bậc anh hùng liệt nữ, chúng ta thấy dường như họ lôi cuốn chúng ta dấn thân theo. Họ khuyến khích ta hãy cố gắng, hy sinh để làm việc lớn bằng những tâm nguyện như "đã mang tiếng đứng trong trời đất, phải có danh gì với núi sông". Lời nói khảng khái đó thúc đẩy ta nỗ lực để tạo cho mình một chỗ đứng lịch sử tốt đẹp nào đó.
Có được càng nhiều kiến thức về lịch sử, chúng ta biết được càng nhiều về cách sống thế nào cho phải đạo làm người. Sở dĩ thế là vì khi đọc sử, chúng ta đã quá quen với cảnh đời của những kẻ giàu sang, quyền thế , hống hách một thời , bỗng bị sa sút hay đày đọa nhục nhã , để cho lịch sử lên án gắt gao ; chúng ta cũng đã quá quen với những người tuy suốt đời phải gian khổ nhưng vãn chịu đựng , hy sinh cho đại cuộc , nên lưu lại tiếng thơm nơi hậu thế .
Không phải đợi đến ngày nay người ta mới để ý đến khía cạnh giáo dục, dạy đời đó của lịch sử. Ngay từ xưa, Halicarnassus đã từng nói: "Lịch sử là phép giáo hóa bằng gương mẫu". Thật vậy, mục đích của Khổng Tử khi san định Kinh Thư và Kinh Xuân Thu là để nêu lên những mẫu mực, luân lý cho người đời sau noi gương. Bởi vậy, trong bài tựa quyển "Sử Ký", Tư Mã Thiên đã đề cao kinh Xuân Thu rằng:"Bộ Xuân Thu, trên thì làm sáng đạo cao của ba đời vua, dưới thì biện biệt giềng mối việc đời, biện bạch điều ngờ vực, vạch rõ lẽ phải trái, quyết định sự do dự, khen điều hay, chê điều dở, tôn người hiền, khinh kẻ xấu ... Xuân Thu phân biệt phải trái, cho nên giỏi về việc trị người ... Xuân Thu dạy về nghĩa vụ. Dẹp đời loạn đưa nó về đường chính, thì không sách nào bằng Xuân Thu".
Trong thời Tiền Hán, Đổng Trọng Thư cũng đã lập ra luận thuyết cai trị bằng lịch  sử. Ông tìm trong quá khứ những gì đã xẩy ra như lụt lội, bão tố, hạn hán, mất mùa, đói kém, bệnh dịch, vân vân , tức là những thiên tai địa họa, và nói là những cảnh báo hay những lời răn dạy của trời đất đối với các vua chúa làm việc trái đạo.
Tư Mã Quang, người đời Tống, khi viết bộ sử "Tự trị Thông giám" (Đào Duy Anh định nghĩa "giám" là cái gương, hay xem để làm gương) cũng có dụng ý nêu lên những mô phạm cho những ai lo việc cai trị ở Trung Hoa soi vào.
Tại Việt Nam, vào thế kỷ XIX, khi các sử quan triều Nguyễn muốn mệnh danh cho bộ sử mà mình vừa hoàn thành, họ đã bằng lòng với cái tên "Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục", một nhan đề mà học giả Maurice Durant đã dịch ra Pháp văn một cách chính xác là "Texte et Commentaire du Miroir complet de l'histoire du Việt".
Gần đây hơn, Fames V. Bryce cũng đã nhận định rằng:"Xét về mặt áp dụng vào thực tế thì kết luận của lich sử có giá trị đích thực không những chỉ cho các học giả thôi, mà còn cho các chính trị gia nữa. Người ta sẽ tránh được nhiều lỗi lầm, nếu các chính khách và các nhà lập hiến có sẵn được trong óc họ những châm ngôn cứng rắn".
Ngoài tính cách dạy đời đó ra, lịch sự còn hữu ích cho văn học nữa. Theo Raymon Aron, đọc lịch sử là có dịp thưởng ngoạn các nét thẩm mỹ của những điều đặc dị trong quá khứ ( contemplation esthéque des singularité). Thật vậy, sự thưởng ngoạn nầy đã đóng một vai trò rất quan trọng văn hóa, vì nhờ làm như vậy mà từ thời Homère (thế kỷ thứ III T.C.N.) đến nay, kiến thức về lịch sử đã là nguồn cảm hứng phong phú làm lên men cho nhiều sáng tác văn nghệ trứ danh trên thế giới: nhạc, kịch, thơ, văn ... Ở Trung Hoa chẳng hạn, những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đồ sộ của nước này đều đã được lấy lịch sử để làm nòng cốt, như Đông Chu liệt quốc, Hán Sở tranh hùng, Tam quốc chí, Tây du ký, Thủy hử, vân vân . Đoạn trường Tân thanh của Nguyễn Du, một tác phẩm văn chương bất hủ của nước ta, không phải là đã được dựa một phần nào vào lich sử để viết đó sao ?
Vả lại, muốn tìm hiểu bất cứ một tác phẩm văn chương, luân lý hay triết lý nào đó, mà nếu không nghiên cứu về hoàn cảnh trong đó tác giả sống và xuất hiện, tức là cái mà người ta thường gọi là bối cảnh lịch sử, thì có lẽ chúng ta không thể nào biết hết được những gì tác giả muốn nói trong tác phẩm của mình.
Trên một bình diện khác, nếu so sánh với trường kỳ thời gian vô thủy vô chung, thì cuộc đời của của chúng ta thật ngắn ngủi. Nhưng, khi học lịch sử rồi, chúng ta thấy cuộc đời hữu hạn của mình dường như được nối dài thêm ra, thêm tới trước cũng như thêm về sau, vì khi đọc sử, chúng ta như được sống gần gũi với tiền nhân, được thấy những điều họ làm, được nghe những lời họ nói. Mỗi lần đọc lại những áng văn lich sử diễn tả trận đánh giữa binh sĩ của anh hùng Quang Trung với quân lính của Tôn Sĩ Nghị tại thành Thăng Long, chúng ta ai lại không hình dung được khung cảnh lưu huyết bi tráng trong cuộc giao tranh, ai lại không nghe được những âm thanh chan chát của gươm đao đang rộn ràng vang dội trên chiến trường đẫm máu quân thù ? Đọc lịch sử, chúng ta ai lại không nghe được tiếng lòng nức nở thầm kín của Nguyễn Thị Giang khi nàng lặng lẽ đứng nhìn người yêu là Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ Yên Bái khác đang anh dũng hô vang "Việt Nam vạn tuế" trên đoạn đầu đài ?
Thế rồi, nhờ kinh nghiệm quá khứ, chúng ta nhìn vào hiện tại để đoán định tương lai, có thể biết được sau này con cháu chúng ta sẽ phải lám gì, dựa theo đà tiến hóa của cuộc sống con người và bằng vào luật nhân quả của lịch sử.
Với một cái nhìn tổng quát vào tất cả các nhận định nêu trên, hẳn chúng ta không thể nào bảo như Fustel đe Coulange rằng" Lịch sử vô dụng" (L'histoire ne sert à rien ), mà phải đồng ý với Cicéron khi ông nói: "Lịch sử là thầy dạy của cuộc đời" ( Historia, magistra vitae).
Huế, 1973.
PHAN THUẬN AN



Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

GÓP BÀI

Bài gửi  Lê Hữu Thành on Tue Mar 07, 2017 6:40 am

Thành sẽ góp  hai bài :
- Một bài về  kỷ niệm thời đi học
- Một bài về việc hình thành nhóm  Quốc Học của chúng mình  

Lê Hữu Thành

Tổng số bài gửi : 769
Join date : 10/12/2014

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

BÀI PHÁT BIỂU CỦA THẦY NGUYỄN PHÚ PHỤNG

Bài gửi  Admin on Thu Mar 09, 2017 5:28 pm

BÀI PHÁT BIỂU CỦA THẦY NGUYỄN PHÚ PHỤNG
( Tóm tắt công việc của nhóm cựu học sinh Quốc Học Khóa 67.74 trong những năm vừa qua )
Kính thưa Quý Thầy Cô
Quý Khách Mời
thân chào các em CHS QH Khóa 67.74 thân mến ,
Trước hết chúng tôi xin đại diện các Thầy Cô Quốc Học
có mặt hôm nay ,xin nhiệt liệt chào mừng Quý Thầy Cô ,
Quý Khách mời và tất cả các em CHS QH Khóa 6774 .
Chúng tôi xin cám ơn các em Lê Khắc Huệ Đức ,
Trương Văn Hải , Lê Bá Tuấn ,Lê Hữu Thành và các
emCHS QH Khóa 67.74 đã tổ chức mời Thầy Cô
họp mặt hôm nay trong không khí vui tươi đoàn kết ,
ấm tình thầy trò .
Trong những năm qua , với tinh thần
Tôn Sư Trọng Đạo , các em đã đến từng nhà một để
thăm viếng các Thầy Cô nhiều lần trong năm .
Đặc biệt nhất là các em đã mời được gần 60 Thầy Cô
đến tham dự các buổi họp mặt vào những ngày 23/10
của các năm 2013 , 2014 , 2015 .
Buổi họp nào cũng đông đủ , vui vẻ , thầy trò gặp nhau ,
bạn bè gặp nhau chuyện trò rất thân mật tràn đầy yêu thương .
Các em đã tổ chức những chuyến đi thăm các Thầy Cô
ở ngoại tỉnh như Danang , Dalat , Sai gon , Biên Hòa ,
Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Nguyên v.v.
Cũng như Quý Thầy , vào những lúc Thầy Cô hay các
bạn đồng khóa đau ốm hay quá vãng các em đều có
đến thăm viếng hay dự tang lễ .
Nhờ có em Trương Văn hải , chúng tôi biết được tin tức
của các cô Hiền Viên , Thanh Toàn , Phước Định , các
thầy Đặng Ngọc Tuấn , Lê Quang khanh v.v.
Nhờ em Phạm Bá Thịnh , nhiếp ảnh gia đẳng cấp
quốc tế mà chúng tôi được bộ ảnh chân dung
Quý Thầy Cô .
Ngoài các công việc nói trên , các em đã bỏ rất
nhiều thời gian và công sức để xuất bản Đặc San
" Quốc Học mến yêu " ,một tác phẩm văn hóa
quốc học đáng ca ngợi , đáng trân trọng.Trong đó
có những trang lưu bút của 48 Thầy Cô mà
các em còn giữ được .
Một lần nữa chúng tôi xin cảm ơn tất cả các em
CHS QH 67.74 và chúc các em mạnh khỏe để dắt
dìu con cháu mình noi gương các bậc cha ông
để làm nhóm QH 67.74 càng ngày càng vững
mạnh và phát triển .
Xin chúc Quý Thầy Cô , Quý Khách mời
an bình và hạnh phúc .
Trân trọng kính chào tất cả .

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

NHỮNG NGƯỜI BẠN “ THUỞ BAN ĐẦU QUỐC HỌC ” By Hà Cảnh Nghĩa - C . H . S . Quốc Học Khóa 1967 - 1974

Bài gửi  Admin on Sun Mar 12, 2017 6:08 am

NHỮNG NGƯỜI BẠN “ THUỞ BAN ĐẦU QUỐC HỌC ”
By Hà Cảnh Nghĩa - C . H . S . Quốc Học Khóa 1967 - 1974
Tôi chỉ kể cho bạn nghe một trong những người bạn mà thuở tôi vào trường Quốc Học đã để lại bao dấu ấn , bao nhiêu kỷ niệm buồn vui đã hằn in sâu vào tâm trí.
Hồi bắt đầu vào Quốc Học cũng là lúc Quê hương nơi tôi sinh ra xảy ra những trận chiến khốc liệt , ban đêm thanh niên trai tráng trong làng phải rời xa ngôi làng về thành phố để tránh bom đạn , bắt bớ , giam cầm . Và tôi cũng nằm trong số đó ; để học được trường Quốc Học tôi phải xin tá túc vào nhà các bạn có điều kiện ngủ nghỉ . Hồi đó bạn LVH có một ngôi nhà ở làng Thủy Xuân nằm sát bờ sông Hương, không hiểu vì sao lại bỏ không, chỉ có mình bạn ở, thế là bạn ấy kéo tôi về đó , những đêm đầu tiên tôi không thể nào chợp mắt nỗi , trời thì quá lạnh, hai thằng co ro trong một cái chăn mà một người đắp còn không đủ , tiếng côn trùng rả rích ngoài mé sông, tiếng nước vỗ vào bờ mỗi khi có chiếc thuyền chạy qua. Bụng cồn cào vì cái đói , cái lạnh xa nhà buồn chao ôi là buồn ! Nhưng sao thằng bạn tôi nó vẫn tỉnh bơ thế , ngọn đèn dầu leo lét nó ngồi bất động trên ghế , mắt dán vào những bài toán khó , quyết giải cho ra đến cùng , và đêm nào cũng thế bạn tôi ngồi học đến 2, 3 giờ sáng , hình như những bữa cơm muối đạm bạc , những cái lạnh 10 độ và chiếc áo phong phanh mặc trên người không hề ảnh hưởng gì tới bạn ấ y, mà không bao giờ tôi thấy bạn ấy than phiền, hay suy nghĩ về cuộc sống vật chất quá thiếu thốn như vậy. Còn riêng tôi chỉ chịu nổi một tháng là tôi chuồn thôi.
Cái tuổi 13,14 là tuổi ăn tuổi lớn , mà tôi vốn dĩ cũng từ bần nông nghèo khổ mà ra còn không chịu được nữa là . Sau này khi rời trường Quốc Học , tôi có rất nhiều bạn , bạn học Cao đẳng, bạn đời , bạn làm ăn , đủ mọi miền trên đất nước , nhưng tôi không thể nào quên và hiểu được thằng bạn thưở ban đầu vào trường ấy cái động cơ nào , yếu tố gì đã tạo ra một thằng con trai mình đồng da sắt như vậy.
Cho đến một ngày gặp lại được thằng bạn LKHĐ t ừ nước ngoài trở về và có tâm nguyện thành lập một nhóm Quốc Học 67, 74 với tôn chỉ kết nối lại Thầy Cô, bạn bè xưa cũ lại, thăm viếng , giúp đỡ lẫn nhau khi ốm đau , hoạn nạn, và cũng từ đấy tôi chợt hiểu ra rằng cái đã tạo ra con người bạn tôi là tinh thần , là ý chí Quốc Học nhờ đó mà quên đi cái lạnh, quên đi cái đói , từ đó vươn lên trong cuộc sống.
Một lần khi đã ra trường QH khá lâu , tôi bất chợt đến thăm bạn ấy, trong căn phòng nhỏ bạn ấy như đang ngồi thiền nhưng không phải trước mặt là một tấm bản đồ vẽ đang dở dang , hàng ngàn nét vẽ chi chít nhau nhưng rất sắc sảo , rõ ràng. Bạn ấy bảo người Trung Quốc xưa đã vẽ tấm la bàn coi mộ bia , coi nhà cửa , đất đai này sai và bạn ấy đang dự định vẽ lại cái khác và in ấn cho ra đời. Tôi giật mình , đây đúng là một bật kỳ tài bị lãng quên , một học sinh giỏi Quốc Học nhưng không có đất dụng võ nên cuộc đời bạn mãi khốn đốn mà thôi.
Khi tôi viết những dòng chữ này về bạn , thì bạn đang đi tu một ngôi chùa nào đó ở Sài Gòn.
Bạn và tôi tuy không đi chung một đường nhưng tôi tin rằng tôi và bạn không bao giờ và không thể nào quên được những ngày đầu tiên tụi mình bước chân vào ngôi trường Quốc Học , những ngày khốn khó trong ngôi nhà bên dòng sông Hương chất chứa những nỗi niềm .
Huế, những ngày mưa phùn
tháng 3 / 2017 thật lãng mạn
Hà Cảnh Nghĩa

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 5772
Join date : 07/08/2012

Xem lý lịch thành viên http://quochoc6774.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Re: DỰ ÁN ĐẶC SAN " THUỞ BAN ĐẦU QUỐC HỌC "

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 2 trong tổng số 4 trang Previous  1, 2, 3, 4  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết